Ký ức ngày tiếp quản Đồng Hới

0
219

Hàng năm, khi tờ lịch mới báo sang tháng Tám, trong tôi lại hiện lên những kỷ niệm khó quên về sự kiện tiếp quản chiều 18-8-1954.

Hồi ấy, tôi là cán bộ trinh sát quân báo Tỉnh đội . Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, tuyên bố đình chiến từ 21-7-1954 nhưng do phương tiện thông tin liên lạc hồi đó không như bây giờ, nên mãi cuối tháng 7 mới có hiệu lực ở tỉnh ta. Từ những ngày đầu tháng 8, các cơ quan cấp tỉnh được lệnh di chuyển từ xã Tây Trạch – vào đóng tại các làng Phương Xuân, Trung Nghĩa; cơ quan Tỉnh đội đóng tại làng Lệ Kỳ thuộc , tất cả để chuẩn bị cho việc tiếp quản thị xã tỉnh lỵ.

Ở cơ quan Tỉnh đội lúc này, không khí rộn ràng, công việc khá khẩn trương, các ban tham mưu, chính trị, hậu cần người nào việc nấy, vừa làm vừa học thuộc lòng 8 chính sách, 12 điều kỷ luật công tác vùng giải phóng; người người đi lại họp hành, làm việc ngày đêm tấp nập làm cho không khí các làng quê hẻo lánh bị giặc Pháp đóng đồn kềm kẹp suốt 8 năm trường, xưa nay vốn im lìm bỗng trở nên náo nhiệt. Vừa đúng hai hôm trước ngày tiếp quản Đồng Hới, tôi và anh Phan Nại (cán bộ cùng tiểu ban quân báo) được đồng chí Tham mưu phó Tăng Ba triệu tập giao nhiệm vụ.

Đồng chí cho biết: “Chiều ngày 18 tháng 8 tới, lực lượng vũ trang sẽ chính thức tiếp quản thị xã Đồng Hới, gồm có các đơn vị: Tiểu đoàn 229 chủ lực tỉnh và C 300 của ta; tiểu đoàn 195 từ Nghệ An đang hành quân vào và trung đoàn 95 có thể sẽ đến muộn hơn. Việc tiếp quản thị xã và các vùng giải phóng trong tỉnh có một nhiệm vụ quan trọng tiếp theo và phải làm ngay sau khi địch rút hết quân, đó là việc tháo gỡ bom mìn mà quân giặc còn bỏ lại ở các đồn bốt cũ, không những chỉ ở Quảng Bình mà theo lệnh Bộ Tư lệnh Liên khu, ta còn phải tháo gỡ cả vùng Bắc sông Bến Hải, để bảo đảm an toàn tính mạng nhân dân, giải phóng đất đai cho công cuộc khôi phục sản xuất phát triển kinh tế.

Ký ức ngày tiếp quản Đồng Hới
Bộ đội tiến vào tiếp quản thị xã Đồng Hới, ngày 18-8-1954.

Nhiệm vụ trước mắt của đội trong hôm tiếp quản thị xã là phải đi trước đại quân, kiểm tra kỹ mọi ngóc ngách trong nội thành Đồng Hới, đề phòng địch còn bỏ sót bom mìn hoặc có mưu đồ xấu gây tiếng nổ trong ngày vui giải phóng; sau đó, sẽ bắt tay ngay vào việc tháo gỡ mìn ở sân bay Đồng Hới trước khi lấy ở các nơi khác”. Nhiệm vụ thế là đã rõ, tôi mừng ra mặt như muốn nhảy cẩng lên, bởi không những mình là một trong số 14 anh lính cụ Hồ, hình thành đội ngũ sẽ xuất hiện đầu tiên trong giờ phút lịch sử của thị xã tỉnh lỵ quê hương suốt 8 năm trời bị giặc chiếm, nay đang nô nức mừng vui được giải phóng.Lệnh của đồng chí Tỉnh đội trưởng Trần Lư, phải hình thành ngay từ bây giờ “Đội tháo gỡ bom mìn” để sau ngày tiếp quản thị xã là tiến hành ngay công việc. Quân số của đội đã quyết định lúc đầu có 14 đồng chí – lấy từ quân báo tiểu đoàn 229 và ban tham mưu ta, đồng chí Phan Xuân Hường là đội trưởng, đồng chí Phan Nại là đội phó.

Đúng 13 giờ trưa ngày 18-8-1954, trên một thửa đất mạ ở làng Lệ Kỳ lễ xuất quân của “Đội tháo gỡ bom mìn” được tiến hành nhẹ nhàng nghiêm túc. Sau khi anh Mai Phúc Phấn – Trưởng tiểu ban quân báo đọc quyết định cấp trên thành lập đội, đồng chí Tham mưu trưởng Ôn Nhật Thanh có vài lời căn dặn, gởi gắm lòng tin, mong anh em hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ khó khăn nguy hiểm.

Thay mặt toàn đội, tôi từ đầu hàng quân bước lên quay mặt về phía anh em hô to câu khẩu hiệu quyết tâm (lấy từ lời tâm tình khích lệ của đồng chí Tăng Ba với toàn đội vào hôm trước đó, đã thống nhất với anh em) “Sẵn sàng hy sinh trong giờ thắng lợi!”. Toàn đội đồng thanh 3 lần đáp lại “Sẵn sàng!” như thay cho ba phát súng lệnh lên đường, đã làm cho không những chỉ riêng chúng tôi mà có lẽ với cả những ai có mặt chứng kiến buổi xuất quân hôm ấy cũng không khỏi dâng trào niềm xúc động tự hào.

Theo kế hoạch giao hẹn, thời gian cuối cùng cho quân Pháp rút hết khỏi Đồng Hới bằng đường biển là lúc 15 giờ ngày 18-8, “Đội tháo gỡ bom mìn” phải có mặt tại lúc 14 giờ 30, đợi nhận tin báo giờ chót của anh Nguyễn Kim Biểu (phó đoàn liên lạc quân sự, Trưởng tiểu ban quân lực, nguyên sếp ga Thuận Lý thời Pháp thuộc) nhanh chóng làm nhiệm vụ cho kịp đón đại quân theo dự định 17 giờ sẽ tiến nhập nội thành.

Đã cuối tháng Tám mà chưa có trận mưa đầu mùa, thời tiết vẫn còn nắng nóng gay gắt, về trưa trời càng oi bức đến ngột ngạt – đất và người đang cơn khát nước. Hành quân đi qua đình làng Trung Nghĩa, nơi đây các đơn vị đang lũ lượt về tập kết hội quân để nhận huấn luyện của Chủ tịch tỉnh kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân quản Tỉnh  lỵ Đồng Hới – trước khi tiến về Đồng Hới. “Đội tháo gỡ bom mìn” được phép đi trước. Toàn đội rảo bước nhanh theo đường đất đỏ mấp mô xuống , Bình Phúc, Diêm Điền; đâu đâu cũng thấy treo nhiều cờ Tổ quốc, những nơi có đông đồng bào đứng đón, chúng tôi đều giơ cao mũ vẫy chào…

Ôi! Đúng là một rừng cờ hoa, dường như người cả thị xã này đổ hết ra đây, già, trẻ, gái, trai áo quần đủ sắc màu rực rỡ, đứng hàng hàng ken nhau chật ních dọc hai dãy hè phố. Đội chúng tôi vừa bước vào đường chính, cả rừng cờ hoa bỗng xáo động bừng lên, vẫy chào tới tấp trông như những cánh bướm hội xuân, từ đầu dòng người náo nhiệt đón chào, một giọng nghe trong lanh lảnh của cô thiếu nữ tha thướt, áo hồng nổi bật, tay cầm bó hoa giơ cao, miệng cất tiếng hô đặc giọng địa phương: “Hoang nghênh Quân đội nhâng dâng về tiếp quảng thị xã Đồng Hới!”, lập tức tiếng hô “Hoang nghênh – hoang nghênh – hoang nghênh!” của cả rừng người đáp lại liên tiếp vang dội cả phố phường. Chúng tôi đi thành hai hàng dọc, súng tiểu liên khoác chéo vai, chân rảo bước, tây cầm mũ vẫy chào, trong lòng thì sướng vui khôn tả.

Bước chân đến đâu, tôi có cảm giác như mọi cặp mắt trìu mến thương yêu của người người đứng đón đều đổ dồn hết về phía chúng tôi, và còn nghe cả những tiếng thì thầm to nhỏ từ giữa dòng người, có cả tiếng khóc thút thít của bà mẹ nào đó, chừng như vắng biệt tin con làm chúng tôi vô cùng xúc động và trào dâng niềm tự hào về người chiến sĩ Quân đội nhân dân.

Đi hết dãy phố có người đón, tôi lệnh cho toàn đội cất bước chạy nhanh về phía cổng Nam vào thành, không thể chậm trễ (những ai trông thấy lúc đó hẳn đều lấy làm lạ không rõ chuyện gì). Quan sát qua cảnh trạng hiện trường, tôi cho toàn đội dàn thành hàng ngang tiến hành kiểm tra ngay phần nửa phía Tây nội thành. Ở đây toàn quân Pháp đóng giữ, có trại lính pháo binh, trận địa pháo (nay khu vực cơ quan UBND tỉnh và sân vận động), có trại lính bộ binh, công binh (nay là khu vực cơ quan Tỉnh ủy và Sở Công an ra phía sau), cơ quan chỉ huy chung của cả tỉnh (ở khu vực Thư viện và nhà Bảo tàng bây giờ).

Biết chắc ở nội thành địch không thể cài đặt bom mìn như ở các đồn bốt chiếm đóng, tuy nhiên chúng cũng không thể không bố trí những cạm bẫy phát hiện ở những nơi đề phòng quân ta đột nhập. Quả nhiên, ở phía sát thành sau các kho đạn, kho hậu cần, góc trại gam (nơi đây bọn lính còn trồng cả chuối tiêu khá tốt càng tạo thêm bóng tối) tại các góc chúng đều có cắm biển báo Át-tăng-xi-ong Min-nơ! (coi chừng – mìn), chứng tỏ địch cảnh giác đề phòng cẩn thận khu vực xung yếu. Kiểm tra xong các ngõ ngách trong nội thành (lấy được một quả đạn AT địch chôn lấp bỏ sót) tháo gỡ hết các biển báo mìn, cũng vừa đủ thì giờ thu quân – toàn đội có nhiệm vụ ra trước cổng Đông làm thành hai hàng tiêu binh đón đại quân tiến nhập thành nội.

Đúng 16 giờ 55 phút, tổ Quân kỳ dẫn đầu đoàn quân tiến vào cổng Đông thành Đồng Hới, kế tiếp là hai vị chỉ huy cao nhất – Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Vũ Bảo và quyền Chính trị viên Tiểu đoàn Lê Niềm. Đoàn quân tiếp theo đội hình ba hàng dọc, chân rảo bước đều, súng khoác vai theo tư thế cao nòng, nét mặt rạng rỡ – trung đội cách trung đội năm bước, đại đội cách đại đội mười bước, chỉ huy đại đội đi trước đơn vị mình.

Tổ Quân kỳ đã đến cổng thành mà đuôi đoàn quân còn đang mãi cuối phố. Tiếng “Hoang nghênh” mừng đón liên tiếp dồn dập của cả rừng người nghe như những đợt sóng biển vỗ bờ không mệt mỏi, bám vượt theo chiều dài đoàn quân dội vào vách tường ngõ phố chừng vang xa tận làng cát , đến Thuận Lý, Diêm Điền, Phú Thượng, Bình Phúc… càng làm lòng người cả một vùng ngoại thị thêm náo nức với bao nỗi mừng vui quê hương được giải phóng…

Đã 60 năm đi qua, về thăm lại Đồng Hới, quang cảnh của một thành phố với tầm cao chiều rộng, san sát nhà cao ngói đỏ, đường phố thênh thang ngang dọc, cây xanh thẳng tắp; người xe rộn ràng tấp nập, cây cầu hình trăng khuyết nối hai bờ ngàn đời mơ ước làm cho hình hài Đồng Hới trở nên duyên dáng, xôn xao xuôi ngược… tôi không khỏi bồi hồi nhớ lại cảnh trạng Đồng Hới xưa. Một thị xã tỉnh lỵ cuốc bộ chưa thấy mỏi chân đã hết đất, phố xá lèo tèo, xóm Câu (Hải Đình) nhà chen chúc ổ chuột, mưa xuống lội lầy, làng Tam Tòa (Đồng Mỹ) dở thôn dở thị, làng Phú Ninh (Đồng Phú) thiếu ruộng, trồng rau làm nghề chính; chợ Đồng Hới phơi nắng dầm mưa, khi đông lắm chỉ quá trăm người, vài con đường phố ngắn ổ gà ổ vịt, cống rãnh ùn tắc, rác rưởi hàng đống tích tụ tháng ngày đổ đặc ven sông chờ mùa nước lũ dọn đưa ra biển…

Nay thì khác xa trời vực. Nỗi tiếc ngẩn ngơ trong tôi, cũng như nhiều người là mấy cổng thành di tích và thành quách Đồng Hới bị đập phá tan hoang không cân nhắc! Đất nước chuyển mình, xã hội đổi thay, sao dời vật đổi, cuộc sống đời người còn lắm gian nan, suy tư trăn trở… Mong sao Đồng Hới một tỉnh lỵ xếp hàng sánh vai ngày càng giàu và đẹp. Giàu đẹp theo nghĩa tâm hồn trí tuệ, đạo nghĩa văn minh để khỏi phụ tâm sức công lao xương máu của thế hệ ông cha đã đời nối đời đi giành và giữ trọn giang sơn Tổ quốc hôm nay.

Tháng 8-2014
Phan Xuân Hường

Loading...

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here