17 C
New York
Thứ Hai, Tháng Chín 27, 2021

Phù Chánh – Làng văn hiến

- Advertisement -

Từ thành phố Đồng Hới  đi về phía nam khoảng 40km có một làng cát trù phú nằm ven đường quốc lộ 1A, xưa có tên là làng Phù Chánh, tổng Thủy Liên, nay thuộc xã Hưng Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Sách Đại Nam dư địa chí ước biên của Tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn  Cao Xuân Dục viết “Phù Chánh nổi tiếng văn hiến” .

Phù Chánh - Làng văn hiến

Xã Hưng Thủy hiện tại (Ảnh Google Map)

Theo tộc phả của một số dòng họ, làng cát Phù Chánh có vào khoảng giữa thế kỷ XV. Dưới thời vua Lê Thánh Tông, nhà Lê chủ trương chủ trương đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang ở những vùng đất phía Nam Đại Việt. Năm Đinh Hợi (1467) Lê Thánh Tông có chiếu dụ mở mang khai khẩn vùng đất Bố Chính, Tân Bình và cho  đào Kênh Sen (Liên Cảng) thông vào đất Thuận Hóa. Những cư dân đầu tiên của làng Phù Chánh bắt đầu khai canh, lập ấp viết nên trang sử làng đến nay đã hơn 500 năm.

Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa, có một đàn voi thần giúp vua đánh giặc. Khi đất nước ca khúc khải hoàn đàn voi thần tìm đường về vùng quê  Phù Chánh vùi thân vào cát trắng hóa thành dãy động cát Bạch Sơn (núi trắng). Con voi đầu đàn nằm quay lưng về biển đông mặt hướng về Trường Sơn trùng điệp. Thêm bốn con trong đàn chầu vào bốn xóm Phù Lưu, Đăng Tuần, Trằm Cát, Trằm Ngoại Mai.

Khi còn sống, đàn voi thần tả xung hữu đột giúp vua đánh giặc cứu nước, khi thác về yên nghỉ trong cát phù hộ độ trì cho muôn đời con cháu mai sau. Từ trong các động cát khô cằn, người dân Phù Chánh chắt chiu những những mạch nước nguồn, trong suốt âm thầm chảy qua năm tháng nuôi lớn củ khoai, hạt lúa giúp Phù Chánh sinh sôi.

Người dân Phù Chánh cần cù, chịu thương chịu khó nhưng điều đáng quý hơn là nơi “cồn khô cát bạc” khắc nghiệt ấy lại có truyền thống văn hiến nổi tiếng được sử sách truyền tụng. Đặc biệt, dưới thời nhà Nguyễn, Phù Chánh đã sinh ra dòng họ Nguyễn Đăng từ đời ông, con, cháu chắt đều học hành đỗ đạt, làm quan thanh liêm chính trực, một lòng yêu nước, thương dân.

Mở đầu dòng họ là Nguyễn Đăng Tuân có tên chữ là Tín Phu, sách Chính biên liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn viết: “Buổi đầu đời Gia Long, lấy văn học được cống cử, vào làm việc ở Hàn lâm, đã từng làm quan tri huyện Ngọc Sơn, rồi về Kinh sung chức Tư giảng ở Công phủ, đổi làm Thị giảng ở cung Chấn Hanh. Minh Mạng năm thứ nhất (1820) bổ làm Thiêm sự bộ Lễ”.

- Advertisement -

Là một học sĩ tính tình thuần nhất, lối học chủ về nghĩa lý Nguyễn Đăng Tuân là một vị đại thần hết lòng yêu nước, thương dân, sống cuộc đời thanh bạch không ham chức tước, bổng lộc. Khi làm Thiêm sự bộ Lễ ông dâng sớ xin được khoan thư sức dân vì “quân dân đương bị tật dịch, không nên bắt làm nhọc lắm. Dương thịnh thì âm suy, cũng là luật để ngăn tai biến”. Đối với triều đình, ông dâng biểu 6 điều đề nghị có những cải cách chế độ quan trường, tuyển chọn người tài, xây trường học ở các doanh trấn và mở khoa Ân thi hàng năm, bớt tiêu phí tiền bạc của dân.

Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) Nguyễn Đăng Tuân được sung chức Sư bảo dạy các hoàng tử. Là người thầy mẫn cán, nghiêm khắc ông luôn chú trọng đến việc dạy các hoàng tử “nên người có đức”.

Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) ông cáo quan xin về làng  và chỉ khẩn thiết xin với vua một điều: “Xin rộng một đạo hiếu để ban ra luân thường, rõ chính đạo thường mà lập đạo trị nước”. Nghe vậy vua Thiệu Trị rất cảm động cho rằng đó là lời nói tự đáy lòng, khuôn mẫu của lòng thành thực nên vẫn giữ ông lại làm Sư bảo và sau đó thăng chức Hiệp biện đại học sĩ. Một năm sau ông lại xin được nghỉ việc vua không nỡ trái ý mới cho ông cáo quan về làng. Khi đã về an nghỉ tuổi già, vua ân sủng cho hưởng bổng lộc nhưng ông từ chối và tâu rằng: “Phàm làm việc gì nên để đức có thừa không hết về sau, làm quan nên lấy thanh bạch mà để cho con cháu”.

Nguyễn Đăng Tuân mất năm ông 73 tuổi, được truy tặng là Thiếu sư, tên thụy là Văn Chính. Vua Thiệu Trị làm thơ ca ngợi đức độ, công trạng của ông, cho khắc vào bia đá dựng ở quê nhà.

Năm 1848, vua Tự Đức lên ngôi nghĩ đến công đức của Nguyễn Đăng Tuân  mới làm hai bài thơ và dụ rằng: Thận Trai tiên sinh, trước sung tây tịch, giúp ích rất nhiều vẫn canh cánh trong lòng không thể thôi được và sai sứ mang thơ đến đọc trước bàn thờ ông. Sau khi nghe sứ tâu lại thấy cảnh nhà thanh bạch vua lại sai quan quân về  dựng nhà thờ ông.

Cuộc đời của Nguyễn Đăng Tuân, giống như ông nói “làm quan nên lấy thanh bạch mà để cho con cháu”. Chính bài học đạo đức làm người của ông đã được con cháu kế thừa, phát huy làm rạng danh dòng họ về sau.

Con Nguyễn Đăng Tuân là Nguyễn Đăng Giai có tên chữ là Toản Phu là người khôi ngô tuấn tú, lúc còn nhỏ chỉ học chữ ở nhà nhưng đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) vẫn thi đỗ Hương tiến vào làm việc ở Hàn lâm viện rồi sau đó thăng lên các chức Lang trung bộ Hộ, Tham hiệp trấn Nam Định, sung chức Khảo trường Nghệ An, Bố chính sứ Thanh Hóa, Tổng đốc Ninh Thái, Tổng Đốc Sơn Hưng Tuyên…

Là người tài năng trên nhiều lĩnh vực, được triều đình tin dùng, đi đến đâu, làm việc gì ông cũng hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình.

- Advertisement -

Trên lĩnh vực quân sự, ông là người có công trong việc đề xuất cải cách đội binh thuyền của triều đình nhằm tăng cường sức chiến đấu của thủy binh. Khi có giặc, ông được cử làm Tổng thống quân vụ đại thần đưa quân dẹp loạn ở các tỉnh phía Bắc, tổ chức xây dựng biên cương vững bền.

Trên lĩnh vực kinh tế, khi làm Tổng đốc Hà Ninh ông đã cho đắp đê trị thủy, đưa nước cải tạo đồng ruộng làm cho vùng đồng bằng sông Hồng thêm trù phú. Ông còn là người đề xuất những cải cách hành chính ở Nghệ An, Hà Tĩnh.

Là một vị đại thần thẳng thắn, trung thực, một lòng vì nước ghét kẻ xu thời, nịnh bợ thẳng tay trừng trị những kẻ hà hiếp dân lành. Đối với dân ông luôn chăm lo đến đời sống của dân chúng, đến những nơi mất mùa ông khẩn xin triều đình hoãn thuế, lấy thóc trong kho nhà nước cứu đói cho dân.

Khi Nguyễn Đăng Giai mất, vua Tự Đức hết lòng thương tiếc dụ rằng: “Nguyễn Đăng Giai đã từng thờ ba triều, trung thần một tiết. Ra ngoài nhận coi một địa phương, vào Kinh tham gia việc cơ mật, đã hơn 20 năm nay từ khi mang cờ tiết ra sai phái cúi mình làm hết sức khó nhọc, sửa sang việc biên cương, xông pha nơi lam chướng… thực nên hậu gia điển chương khen thưởng để nêu người trung tiết, chuẩn cho tặng là Thiếu bảo, tên thụy là Văn Ý”. Năm Tự Đức thứ 11 Nguyễn Đăng Giai được liệt vào thờ ở đền Hiền Lương.

Con Nguyễn Đăng Giai là Nguyễn Đăng Hành là người ôn hòa, văn nhã ham thích đọc sách. Năm Tự Đức thứ nhất đã đỗ tiến sĩ được cử làm Án sát sứ tỉnh Quảng Ngãi rồi Bố chính sứ tỉnh Khánh Hòa. Khi phía Bắc có biến, Nguyễn Đăng Hành được cử giữ chức Bắc thứ Thường biên quân vụ đi dẹp loạn. Khi nhận chức Đăng Hành bảo rằng, “nhà ta đời đời chịu ơn nước. Bắc Kỳ là nơi của tiên quân ta đã trị nhậm trước, ơn trạch để lại hãy còn, chuyến đi này tất phải đốc quân nghĩa dũng, hăng hái, ra sức trừ bỏ bọn giặc để báo hiếu”.

Cầm quân thắng giặc liên tiếp 13 trận nhưng trong trận chiến ở Đông Hồ, phủ Thuận Thành không may bị quân địch bao vây ông đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Sau khi Nguyễn Đăng Hành hy sinh, em ông là Nguyễn Đăng Hộ tiếp nối sự nghiệp của anh tiếp tục chiến đấu diệt tan giặc phỉ. Nguyễn Đăng Hành mất ông được truy thụ hàm Bố chính sứ và sau đó được liệt thờ ở đền Trung Nghĩa.

Con của Nguyễn Đăng Hành là Nguyễn Đăng Cũ đỗ cử nhân khoa Giáp Thân (1884) đời vua Kiến Phước được bổ làm Tri huyện.

Nguyễn Đăng Cũ có ba người con là Nguyễn Thị Châm, Nguyễn Đăng Kiểm, Nguyễn Đăng Cư. Bà Nguyễn Thị Châm lấy chồng là Võ Khắc Triển vị tiến sĩ của khoa thi Kỷ Mùi (1919) từng giữ chức Thừa phái bộ Lại, tri phủ huyện Đức Thọ, Án sát tỉnh Quảng Trị. Cách mạng tháng Tám thành công, ông lên chiến khu, hòa bình lập lại ông được mời ra làm việc tại Viện Hán Nôm chăm lo việc biên sọan, dịch thuật cho đến cuối đời.

Nguyễn Đăng Cư đỗ Cử nhân năm 1918, đỗ Phó bảng năm 1919. Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Đăng Cư lên chiến khu tham gia kháng chiến…

Dòng họ Nguyễn Đăng 5 đời khoa bảng, làm quan thanh liêm, chính trực, một lòng vì nước vì dân đã góp phần làm rạng rỡ cho truyền thống văn hiến của làng cát Phù Chánh, của Hưng Thủy anh hùng.

Phan Viết Dũng

Nguồn: Báo Quảng Bình

- Advertisement -

bài liên quan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

kết nối

66,533Thành viênThích
281Người theo dõiTheo dõi
21,400Người theo dõiĐăng Ký
- Advertisement -

bài mới

- Advertisement -

được quan tâm