20.2 C
New York
Thứ Ba, Tháng Chín 28, 2021

Nghề đan lát Xuân Bồ xưa và nay

- Advertisement -

Đan lát gắn liền với cuộc sống cư dân của hơn 54 dân tộc Việt Nam. Hầu như làng nào cũng có nhiều người biết đan lát. Nhưng đan lát trở thành nghề để sinh sống và trở thành làng nghề thì ở Lệ Thủy chỉ có làng Xuân Bồ (xã Xuân Thủy). Nghề đan ở Xuân Bồ ra đời từ lúc nào chưa ai khẳng định chính xác, nhưng đã rất lâu đời, ở làng này, hầu hết mọi người đều biết nghề đan lát.

Hò khoan Lệ Thủy đã mô tả nhịp sống của gười dân Xuân Bồ ngày trước:

“Vợt mây tre chằm tơi, thắt gióng, chẻ hóp xỏ kiềng, vót tre đan sàng giần thúng mủng …”

Từ nguồn nguyên liệu mây, tre, lồ ô, hóp và lá, người dân Xuân Bồ làm bằng thủ cụng đã tạo nên những vật dụng phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt trong đời sống hàng ngày hết sức thiết yếu. Có thể liệt kê từ trong bếp trở ra đồng ruộng gồm rế (đựng soong, nồi, bát, chảo); kiềng (đựng bát đũa); thúng, mũng, giần, sàng, nong (nống), nẻn (nia), oi gà (lồng nhốt gà); rọ mồm (bịt mồm trâu bò); oi cỏ (oi đựng cỏ); gióng (dùng để gánh), khau, tròng (dùng để tát nước), nơm, chẹp (dùng để bắt cá) và tơi (dùng để che mưa, nắng cho người). Mỗi một sản phẩm có cách đan khác nhau mà quen gọi là lóng, có thể lóng mốt, lóng hai, lóng thúng, lóng nẻn, lóng khau…

Nghề đan lát Xuân Bồ xưa và nay“Khéo tay thì đan lóng mốt”, câu tục ngữ này chỉ rõ rằng dù lóng mốt là một nan cất lên một nan đè xuống rất đơn giản, nhưng lại phải khéo tay mới có sản phẩm đẹp, bởi đòi hỏi nan tre phải đều về độ dày, độ mỏng. Bởi vậy từ cái rổ sưa (dùng để rửa rau), đến cái nôi cho con trẻ đòi hỏi sự khéo tay của người thợ.

Các công đoạn của đan khá đơn giản: tre lồ ô, hóp chẻ theo yêu cầu của sản phẩm, vót rồi đan. Đòi hỏi khắt khe của nghề đan là giữa đan và nức phải phù hợp để sản phẩm đảm bảo chắc bền và đẹp. Sản phẩm hình tròn hay ô van phụ thuộc vào vành, lận và nức (buộc).

Sản phẩm của nghề đan lát cũng phân chia thành nhóm loại. Rẻ tiền mau hỏng (loại này không cần đẹp, ví như rọ mồm, rọ heo…); loại bền đẹp (như giần, sàng, thúng, mủng). Riêng loại thúng cũng có hai loại: thúng thường dùng và thúng gạt. Thúng thường thì đan nan to, nức thưa; thúng gạt thường dùng để đong lúa gạo khi trao đổi. Để làm đẹp cho dụng cụ thường dùng như giần, sàng, thúng gạt, mủng, ngoài vành (cạp) người ta vót một thanh tre nhỏ, nhỉnh hơn que tăm một tý ghép vào trong quá trình nức, gọi là nức liến.

Có thể nói rằng, nghề đan và làng đan Xuân Bồ đáp ứng mọi nhu cầu thiết yếu cho đời sống của cư dân sản xuất nông nghiệp, từ nhà ra đồng. Trong đó, cái mủng là một sáng tạo khá độc đáo. Ngày trước, việc giỗ chạp, cưới xin, đình đám không phải là phong bì tiền như bây giờ mà tuỳ gia chủ tổ chức cách nào và khả năng của mình, nên người ta thường dùng mủng (một kiểu đan nức như thúng gạt thu nhỏ) để đựng nếp (hay gạo), rượu đến chung vui hay chia buồn.

- Advertisement -

Tơi (vật dụng che mưa) cũng là sản phẩm gần như “độc quyền” của người Xuân Bồ. Ngày trước, chưa có ni lông, áo mưa thì tơi vừa che mưa, lại vừa che nắng. Lại nữa, đi mưa mang tơi lá gió mưa chiều nào xoay tơi che chiều ấy vừa ấm vừa khỏi bị mưa tạt. Nắng tháng 7, tháng 8 với gió Lào bỏng rát, lại mưa bất chợt, người làm đồng thường mang tơi để tránh nắng đốt, lại phòng mưa khỏi phải cảm lạnh. Lá tơi và mây ở rừng, người Xuân Bồ đã tạo nên vật dụng hết sức thiết yếu cho con người. Khác với loại tơi cũng có tiếng như tơi Hà Tĩnh chủ yếu để che nắng nên mỏng và thưa, chỉ là một tấm lá đan che vòng quanh thân người, tơi lá ở Xuân Bồ có vai, thân tơi đan dày và kín, nhìn qua có dạng như một cái áo giáp. Một cái tơi có thể dùng đến dăm mùa mưa nắng mới hỏng.

Từ nghề đan mà nhà nào ở Xuân Bồ cũng có trồng hàng tre, hàng hóp. Tre hóp thành luỹ đã góp phần chở che bộ đội, làm nên chiến thắng Xuân Bồ lừng danh trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong kháng chiến chống Mĩ xâm lược, Xuân Bồ trở thành trạm trung chuyển của bộ đội Trường Sơn (Đoàn 559).

Nói Xuân Bồ là làng nghề đan lát bởi là người dân Xuân Bồ, nam, phụ, lão ấu đều đan nhanh và đẹp. Người thợ đan Xuân Bồ giỏi từ cách chẻ tre (đều, ít tốn công vót) đến đan, lận, nức trở thành kỹ xảo. Mặc dù hiện nay, thời vật dụng và phổ biến của đồ nhựa, đồ nhôm nhưng nghề đan ở Xuân Bồ vẫn tồn tại. Từ cái rế lót soong nồi, đôi gióng đến giần, sàng… vẫn là những vật dụng không thể thiếu trong từng gia đình. Tuy nhiên, với thế mạnh nam, phụ, lão, ấu đều làm được nhưng nghề đan ở Xuân Bồ đang đứng trước nguy cơ mai một. Hiện tại nghề đan bằng nguyên liệu tre, hóp, lồ ô đang phải đối phó với những mặt hàng cùng loại sản xuất bằng nhựa. Muốn khách hàng ưa chuộng… trước hết, người Xuân Bồ cần phải chú trọng để phát triển để có hàng hoá mây tre mỹ nghệ, hàng đan phải thật đẹp, bền và sáng tạo; sau nữa, sự quan tâm phát triển làng đan, nghề đan để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động cũng cần được chú ý và quan tâm.

Nghề đan, nghề làm nón, dệt chiếu… có thế mạnh giống nhau. Vật liệu sẵn có, ai cũng làm được và dù mưa nắng, bão lụt, ngày, đêm đều làm được, có thu nhập.

Ngàn đời nay người Xuân Bồ gắn liền với nghề đan lát, làng đan lát Xuân Bồ vẫn đang được bảo tồn. Nhưng sự tồn tại của nghề đan lát Xuân Bồ chỉ gói gọn trong một số hộ dân. Nghề đan ngày nay chỉ thỏa mãn sự yêu nghề của người gìn giữ nó, chứ để phát triển được thành nghề truyền thống, mở rộng thành làng nghề để sản phẩm cạnh tranh ra thị trường xem chừng còn lắm gian nan. Vẫn còn đó những nghệ nhân thạo nghề, vẫn còn đó những bờ tre, nhưng một sự thờ ơ với nghề xưa đang hiện hữu.

Theo Ngô Quang Văn

- Advertisement -

bài liên quan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

kết nối

66,541Thành viênThích
281Người theo dõiTheo dõi
21,400Người theo dõiĐăng Ký
- Advertisement -

bài mới

- Advertisement -

được quan tâm