Vùng đất Quảng Bình: Những chặng đường lịch sử hình thành và phát triển

0
1087

là tỉnh ven biển Trung Bộ, cố biển rộng mênh mông, núi non hùng vĩ cùng vổi “Vương Quốc” hang động kỳ vĩ, tráng lệ và nhiều kỳ quan thiên nhỉên, bồng lai tiên cảnh tuyệt đẹp và lộng lẫy song hành cùng với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, thiên nhiên rất đa dạng và khắc nghiệt trong quắ trình thành tạo theo tiến trình lịch sử phát triển của trái đất với nhiều chu kỳ kiến tạo khác nhau; Là vùng đất nối liền của một dải non sông thống nhất Việt Nam, là nơi giao thoa và hội tụ những điều kiện tự nhiên, những giá trị lịch sử, vân hốa, xã hội và của hai miền Nam – Bắc.

Vùng đất Quảng Bình có bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời ngay từ thời đại đồ đá, thuộc giai đoạn Văn hoá Hoà Bình muộn cách đây gần 1 vạn năm và là nđi giao hội giữa nhiều nền văn hốa lớn của dân tộc, như Văn hốa Đông Sơn – Sa Huỳnh, Việt Mường – Đại Việt – Chămpa, Đàng Trong – Đàng Ngoài, Thăng Long – Phú Xuân… và được phát triển liên tục cố tính hệ thống cho đến ngày nay. Chính vì vậy, vùng đất này đựng chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hóa vật chất và tinh thần rất độc đáo của dân tộc.

Vùng đất Quảng Bình: Những chặng đường lịch sử hình thành và phát triển

Di chỉ Bàu Tró

Có thể nối rằng, trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, Quảng Bình là eo thắt giữ trọng trách gánh nặng và nếỉ liền haỉ miền Nam – Bắc, luôn là một phần đất thiêng liêng nối liền một dãi non sông thống nhất Việt Nam và có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, là phên dậu của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, là chiến địa khốc liệt trong cuộc đấu tranh để xác lập quyền lực và mở mang lãnh thổ. Nơi đây đã từng là vùng biên giới giữa Đại Việt và Chămpa, đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột của vùng biên viễn, biên cương được minh chứng bởi dấu tích của lũy cổ Lâm Ap, lũy cổ Hoàn Vương; là nơi khởi đầu cho công cuộc mở cõi về phương Nam của nước Đại Việt từ năm 1069; là ranh giổi thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài dằng dặc hơn hai thế kỉ với dòng sông Gianh lịch sử “Xương chất thành núi, máu chảy thành sông” cùng các vết tích của nội chiến tương tàn được ẩn chứa ưong di tích lũy Trấn Ninh, Trường Dực và Động Hải. Đây là vùng đất đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, thời kỳ nào Quảng Bình cũng nằm vào vị trí xung yếu của lịch sử dân tộc, phải chứng kiến và chịu đựng nhiều nỗi đau chia cắt, chiến tranh xâm lược, binh đao lửa đạn, nội chiến tương tàn, tranh giành quyền lực… Chính môi trường đó cùng lịch sử đấu tranh để tồn tại và phát triển với thiên nhiên khắc nghiệt đã tôi luyện và hun đúc nên con người nơi đây có sức sống bền bỉ và đức tính cân cù, nhẫn nại, ý chí và nghị lực phi thường, anh dũng, kiên cường, bất khuất, với truyền thống yêu nước nồng nàn, tận trung với nước, tận hiếu với dân, giàu lòng nhân ái và sáng tạo để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, vươn lên trong cuộc sống, góp phần dựng nước, giữ nước, xây dựng và bảo vệ quê hương.

Quảng Bình là vùng đất hiện diện trong lịch sử dân tộc Việt Nam ngay từ thời kỳ tiền sử và sơ sử. Sau nền Văn hoá Hoà Bình, trên đất Quảng Bình hiện diện văn hoá hậu kỳ đồ đá mới – sơ kỳ kim khí đó là Văn hoá Bàu Tró (cách đây khoảng 4.000 năm đến 3.500 năm), sau đến thời kỳ đồ đồng – Văn hoá Đông Sơn, thời kỳ văn minh dựng nước với thời đại Văn Lang – Âu Lạc. Nơi đây chính là vùng đất giao thoa giữa hai nền Văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh.

Từ thuở các vua Hùng dựng nước, vùng đất Quảng Bình đã hiện diện trong cơ cấu hành chính nhà nước Văn Lang vổi tên gọi “Bộ Việt Thường”, một bộ ở phía Nam trong 15 bộ lạc của nhà nước Văn Lang. Cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp.

Sau khi kết thúc thời Chiến quốc (481-221 TCN), trước âm mưu xâm lược của nhà Tần sau khi thống nhất được toàn Trung Quốc, hai bộ tộc Lạc Việt (thuộc nhà nước Văn Lang) và bộ tộc Âu Việt đã liên hiệp hợp nhất thành nhà nước Âu Lạc.

Năm 214, sau khi chiếm được vùng phía Nam sông Trường Giang, quân Tần đã tiến đánh vào đất Việt, người Âu Lạc đã đoàn kết một lòng, anh dũng đánh trả, tổ chức kháng chiến bền bỉ, lâu dài hàng chục năm dưới ngọn cờ của An Dương Vương.

Sau khi chiếm được Âu Lạc năm 179 TCN, Triệu Đà sáp nhập Âu Lạc vào nước Nam Việt (nước này chỉ tồn tại đến năm 111 TCN), sau đó Âu Lạc chịu sự thống trị của triều đình phong kiến nhà Hán, vào giai đoạn này vùng đất Quảng Bình thuộc quận Nhật Nam ở phía Nam quận Cửu Chân (cực giới quận Cửu Chân phía Nam là Hoành Sơn).

Trước chính sách bóc lột nặng nề và âm mưu đồng hoá, thôn tín nước ta về lâu dài của triều đình nhà Hán và sau này là nhà Tấn, nhân dân quận Nhật Nam mà nòng cốt là nhân dân ở huyện Tượng Lâm đã bền bĩ kiên cường suốt gân 70 năm và cuối cùng đã giành được độc lập, thành lập nước Lâm Ẫp (năm 192), vùng đất Quảng Bình trở thành lãnh thổ biên ải phía Bắc của quốc gia Lâm Ấp (sau là Hoàn Vương năm 758 và Chiêm Thành năm 877) với các châu Bố Chinh và Địa Lý.

Trong thời gian thuộc Chămpa, mảnh đất Quảng Bình luôn là chiến trường đẩm máu, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực và phải chịu nhiều mất mát hy sinh bởi các cuộc chiến tranh giữa các triều đại phong kiến của Chărnpa và Trung Quốc.

Có thể nói, suốt 10 thếkỉ dưới ách thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc, nhân dân các dân tộc Âu Lạc với ý chí tự lực, tự cường, tinh thần bền bỉ, đã quyết liệt đấu tranh giữ vững độc lập dân tộc, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trước âm mưu đồng hoá và thôn tín của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng cuối năm 938 đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn một nghìn năm. Dân tộc ta đã giành lại chủ quyền đất nước, âm mưu đồng hoá và thôn tín của kẻ thù phong kiến phương Bắc hoàn toàn bị phá sản.

Sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), triều đình xảy ra biến loạn, xung đột và suy yếu. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại cồ Việt, đặt kinh đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị sát hại năm 979, trước yêu cầu kháng chiến chống Tống, Lê Hoàn lên làm vua gọi là Lê Đại Hành, lập nên triều đại mơi gọi là triểu Tiên Lê.

Đến năm 1009, Lý Công uẩn (Lý Thái Tổ) lên ngôi đã quyết định dời đô về Thăng Long, đặt tên nước là Đại Việt, xây dựng nhà nước trung ương tập quyền, củng cố quân đội, chăm lo phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông cùng tướng tiên phong Lý Thường Kiệt đánh vào kinh đô Chiêm Thành, bắt sống vua Chiêm Thành là Chế Cũ đưa về Thăng Long. Để chuộc mạng, Chế Cũ xin dâng ba châu Bố Chinh (Tuyên Hóa, Minh Hóa, Quảng Trạch, BốTrạch), Địa Lý (Đồng Hổi, Quảng Ninh, Lệ Thủy), Ma Linh (Vĩnh Linh, Gio Linh) cho nhà Lý.

Dưới triều đại nhà Lý, chính quyền rất coi trọng phát triển . Công cuộc di dân, khai khẩn được tiến hành trên quy mô lđn; cư dân đến đây vừa khai hoang làm ăn sinh sống vừa bảo vệ biên cương phía Nam chống các cuộc xâm lấn của Chiêm Thành.

Sau khi triều Lý suy vong, triều Trần được thiết lập (1226-1400). Trên nền tảng vững chắc đã được xây dựng từ đời nhà Lý, triều Trần tiếp tục công việc kiến thiết đất nước, củng cố quốc gia thống nhất, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tiếp tục mở rộng biên cương về phía Nam. Công cuộc khai thác vùng đất Bố Chính và Lâm Bình được đẩy mạnh. Đầu đời Trần, châu Lâm Bình được đổi thành phủ Lâm Bình; đến năm 1375 (đời Trần Duệ Tông), phủ Lâm Bình đổi thành phủ Tân Bình, sau đổi thành lộ Tân Bình; đến năm 1397 lại đổi thành tréui Tân Bình (bao gồm phần đất Quảng Bình ngày nay và một phần phía Bắc tỉnh Quảng Trị, đời vua Trần Thuận Tông).

Dưới các triều đại phong kiến nhà Trân, mặc dù có nhiều cuộc chiến tranh giữa nhà Trần và Chiêm Thành diễn ra nơi đây, nhưng tình hình chính trị ổn định, các đơn vị hành chính ở Quảng Bình đã được thiết lập về cơ bản. Công cuộc khai phá vùng đất Quảng Bình đã có nhiều bước tiến mới, đặc biệt ở vùng phía Nam là trấn Tân Bình. Với chế độ điền trang, công cuộc khẩn hoang được tiến hành trên quy mô lớn, kinh tế nông nghiệp đã có bước phát triển. Cùng với nông nghiệp các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đã dần dần hình thành và phát triển theo. Nhiều danh nhân đã có công tiếp tục công cuộc khai mở đất đai, lập ấp, phát triển các cộng đồng làng xã nông nghiệp và thủ công nghiệp… Tiêu biểu là danh tướng Trần Bang cẩn khai phá vùng đất hai bờ hạ lưu sông Gianh sau khi dẹp yên quân Chiêm Thành; Hồ Cưỡng đã trở thành thần tổ, Tiền khai khẩn vùng Lý – Nhân – Nam, huyện Bố Trạch; Tiến sĩ Hoàng Hối Khanh với điền trang Tiểu Phúc Lộc bao gồm một vùng đất rộng lớn của các xã Lộc Thuỷ, Liên Thuỷ, Phong Thuỷ, Trường Thuỷ và thị trấh Kiến Giang ngày nay; Phan Thúc Duyên có công khai phá vùng Sơn – Phú, huyện Lệ Thủy.

Năm 1400, Lê Quý Ly phế truất Trần Thiếu Đế, đổi họ Lê Quý Ly thành Hồ Quý Ly, thiết lập triều Hồ. Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, tự xưng là Thượng hoàng, cùng coi chính sự. Năm 1402 (vào đời Hồ Hán Thương), trấn Tân Bình đổi thành phủ Tây Bình. Triều Hồ đã tự làm mất uy tín và ảnh hưởng đối với nhân dân, để lòng người ly tán, tước bỏ mất khả năng và sức mạnh chống ngoại xâm, dẫn đến nguy cơ mất nước.

Năm 1407, nhà Minh xâm lược Đại Việt – Đại Ngu dưới triều đại của cha con Hồ Quý Ly, đổi nước ta thành bộ Giao Chỉ, vùng đất Quảng Bình nói riêng và toàn bộ Đại Việt nói chung đều bị nhà Minh cai txỊ trong suốt 20 năm.

Trước chính sách đàn áp, bóc lột hà khắc và đồng hóa của quân Minh, nhân dân cả nước, trong đó có nhân dân vùng Bố Chính và Tân Bình đã đứng lên đấu tranh chống lại. Đáng chú ý là cuộc khởi nghĩa Lê Lợi giành lại độc lập dân tộc.

Dưới triều Lê, công cuộc khai phá vùng đất Quảng Bình lại có bước phát triển mới. Công cuộc khẩn hoang để lập đồn điều với lực lượng lao động chủ yếu trong các đồn điền là tù binh, tội nhân và một số quân lính đồn trú ở các địa phương. Vào thời kỳ này, khai hoang phục hoá được đẩy mạnh, nhất là ở các vùng trung du và ven biển. Địa bàn cư trú dần dần lan toả lên phía tây và phủ khắp địa bàn tíong toàn châu Bố Chính. Công cuộc khai thiết vùng Tân Bình được đẩy mạnh, xóm làng ngày càng đông đúc. Cùng vổi việc xây dựng quê hương, nhân dân vùng Bố Chính và Tân Bình đã tham gia tích cực vào công cuộc bảo vệ vùng đất phía Nam của nước Đại Việt trước những cuộc chiến tranh quấy phá của quân Chiêm Thành.

Năm 1466, vua Lê Thánh Tông chia lại đất nước thành 12 đạo thừa tuyên và phủ Tân Bình thuộc thừa tuyên Thuận Hóa, đến năm 1490, một lần nữa ông lại cơ cấu đơn vị hành chính trên toàn quốc, chia đất nước thành 13 xứ thừa tuyên và phủ Tân Bình vẫn thuộc xứ thừa tuyên Thuận Hóa.

Hơn bốn thế kỉ kể từ triều Lý, khi Bố Chính và Địa Lý trở thành lãnh thổ của Đại Việt (1069) cho đến thời Lê, vùng đất Quảng Bình ngày nay luôn là địa bàn trọng yếu trong các cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ biên cương, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nơi đây từng là trọng tâm, bàn đạp tiến công của các triều đại Trần, Lê trong công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Nhân dân nơi đây có truyền thống đấu tranh kiên cường, xả thân vì nước, cần cù chịu thương chịu khó, đoàn kết cộng đồng để xây dựng vùng đất mới được khai phá.

Đầu thế kỉ XVI, triều Lê suy yếu. Năm 1527, tập đoàn phong kiến do Mạc Đăng Dung câm đầu thắng thế, phế truất triều Lê lập triều Mạc. Kế tiếp theo là sự hình thành 2 triều: Bắc triều của chính quyền nhà Mạc, Nam triều họ Trinh (Trịnh Kiểm, năm 1545). Cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến đó kéo dài trên nửa thế kỉ. Năm 1592, Nam triều thắng Bắc triều và chiếm được Thăng Long. Trong thời gian này, vùng đất Tân Bình vẫn thuộc đất họ Trịnh (triều Lê Trung Hưng) và không có thay đổi về tên gọi, cho đến năm 1600 đời Hoằng Định vì huý kỵ nên Lê Kính Tông đổi làm Tiên Bình.

Ở Đàng Trong, vùng đất Đoan Quận công Nguyễn Hoàng trấn giữ (từ năm 1558) lúc này gồm hai trấn: trấn Thuận Hóa và trấn Quảng Nam.

Năm Hoàng Định thứ 5 (1604), sau khi thiết lập chính quyền cát cứ phía Nam theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã thống nhất lại các đơn vị hành chính thuộc quyền và chính thức đổi tên phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình để tỏ lòng ước vọng một nền “Thái bình rộng lớn”. Từ đó, danh xưng “Quảng Bình” chính thức đi vào lịch sử và địa danh thiêng liêng này đã tồn tại sâu thẳm trong tâm thức các thế hệ cư dân Quảng Bình cho tới ngày nay (Quảng Bình ngày nay gồm phủ Quảng Bình và châu Bố Chính lúc bấy giờ).

Hơn 50 năm dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng, việc khai thiết vùng đất Quảng Bình đã có bước phát triển. Vì đây là vùng đất phên dậu của nhà Nguyễn ở phía Bắc nên đã được Nguyễn Hoàng coi trọng việc xây dựng các đồn phòng thủ. Vđi chính sách thu phục nhân tâm, khuyến khích an cư lạc nghiệp của chúa Nguyễn, dân cư nhiều năm được mùa, đời sống được cải thiện và nâng cao.

Sau khi chúa Trịnh đưa quân vào chiếm vùng phía Bắc sông Gianh và sau cuộc chiến tranh 1672 đã lấy sông Gianh làm ranh giới Đàng Ngoài, Đàng Trong. Cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong, Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài hơn hai trăm năm, đất nước lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện. Vùng đất Quảng Bình (có phủ Quảng Bình, châu Nam Bố Chính thuộc chúa Nguyễn và Bắc Bố Chính thuộc đất chúa Trịnh) đã trở thành chiến địa, nhân dân Quảng Bình đã phải chịu nhiều gian khổ, đau thương, mất mát và hy sinh.

Trong cuộc nội chiến phân tranh Trịnh – Nguyễn, vùng đất Quảng Bình đã sản sinh và thu hút nhiều danh nhân kiệt xuất trong các lĩnh vực quân sự, kinh tế, mở mang bờ cõi như: Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Trương Phúc Phẫn… Chính nhờ bảo vệ được vùng đất này mà các chúa Nguyễn có điều kiện mở đất về phương Nam và các võ tướng Quảng Bình cũng đã kế tục cha anh lập công ở vùng đất mới là Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Cảnh (con của Nguyễn Hữu Dật)… Với ý nghĩa đó, vùng đất Quảng Bình đã có những đóng góp to lớn trong cuộc Nam tiến, mở cõi về phương Nam ở thếkỉ XVII của Đại Việt.

Trong thời các chúa Nguyễn, mặc dù công cuộc khai thiết đã có những bước tiến so với các thời kỳ trước đây, song do chiến tranh liên miên, chế độ hà khắc, sưu cao thuế nặng, nhân dân bất mãn, oán giận… đời sống nhân dân vùng Quảng Bình vô cùng khó khăn, thiếu thốn.

Năm 1771, khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo.

Tháng 10 năm 1774, quân đội của chúa Trịnh vượt sông Gianh tiến đánh xứ Đàng Trong, tiến vào khu vực kiểm soát của Tây Sơn. Kết thúc sự cai quản của các chúa Nguyễn đối với vùng đất Quảng Bình.

Chỉ trong vòng 10 ngày trong tháng 6 năm 1786, nhân dân Quảng Bình đã nổi dậy phối hợp với nghĩa quân Tây Sơn đánh tan 3 vạn quân Trịnh trên phòng tuyến sông Gianh, tiếp tục tiến thẳng ra Bắc – Hà, lật đổ chế độ nhà Trịnh, thống nhất đất nước. Tháng 12 năm 1788, nông dân Quảng Bình gia nhập vào đội quân của Quang Trung – Nguyễn Huệ quét sạch quân xâm lược Mãn Thanh.

Vùng đất Quảng Bình: Những chặng đường lịch sử hình thành và phát triển

Hoành Sơn quan

Đối với Quảng Bình, năm 1788, Quang Trung quyết định nhập hai châu Bắc Bố Chính và Nam Bố Chính lại làm một và đặt tên là  châu Thuận Chính. Việc làm của Quang Trung thể hiện ý chí thống nhất đất nước ngay ưên vùng đất bị chia cắt Đàng Trong, Đàng Ngoài dưới thời Trịnh – Nguyễn.

Thắng lợi của phong trào Tây Sơn – Nguyễn Huệ (1771-1786) trong chiến dịch tiến công đánh bại tập đoàn phong kiến nhà Trịnh, thống nhất đất nước, đánh đuổi quân Thanh xâm lược đã chấm dứt một giai đoạn đau thương trong lịch sử dân tộc, mở ra thời kỳ ổn định trong một quốc gỉa thống nhất, xây dựng triều đại Tây Sơn hùng cường. Trên địa bàn Quảng Bình, thắng lợi của phong trào Tây Sơn – Nguyễn Huệ chấn dứt sự khủng hoảng chính trị – xã hội kéo dài trên 200 năm. Người dân trên địa bàn Quảng Bình cố cơ hội để hàn gắn những tổn thất của chiến tranh, khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống, xóa dần ranh giới Nam – Bắc Bố Chính, phát triển cộng đồng trong một môi trường văn hoá thống nhất.

Sau khi Nguyễn Huệ qua đồi, năm 1802, Nguyễn Ấnh lật đổ triều Tây Sơn lên làm vua, lập ra triều Nguyễn (1802-1883). Trong thời kỳ này, các đơn vị hành chính cấp tinh được thiết lập và củng cố chặt chẽ hơn với hệ thống từ phủ, huyện, tổng đến cơ sở là các làng xã, thôn, ấp, trang phường… Dinh Quảng Bình (từ năm 1631) vẫn là một đơn vị hành chính trực tiếp chịu sự cai quản của triều đình Huế, công cuộc khai thiết nơi đây đã cố bước tiến mới.

Thời Gia Long, việc quản lý ruộng đất khá chặt chẽ theo chính sách quân điền, về phát triển kỉnh tế, chính sách khai khẩn đất hoang được khuyến khích và đẩy mạnh. Thực hiện chủ trương lấy nghề nông làm gốc “Đĩ nông vỉ bản”; Cùng với nông nghiệp, các ngành nghề truyền thống ở các địa phương đã cố dưới các thời nhà Trần, Lê, chứa Nguyễn như: nghề đánh cá, nghề làm muối, nghề dệt lụa, dệt vải và các nghề thủ công khác cũng cố bước phát triển mạnh hơn.

Năm 1828, vua Minh Mạng ban hành chế độ doanh điền. Theo đố, nhà nước đứng ra tổ chức, đầu tư một phần kinh phí, các nhà giàu gốp thêm một phần kinh phí đứng ra chiêu mộ dân nghèo tổ chức khai hoang lập làng, ấp, ứại mới. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khá phát triển, nhà nước chú trọng mở rộng và phát triển các ngành nghề như xây dựng, làm gốm, sành sứ, dệt, đan lát… Vỉệc buôn bán trong nước được mở rộng. Các sản phẩm ô hai miền Nam Bắc được lưu thông, hình thành một số trung tâm thương mại ở Hà Nộỉ, Hội An, Sài Gòn…

Các hệ thống phòng ngự, đặc biệt hệ thống lũy Thầy, lũy Động Hải được quan tâm cũng cế để phòng ngự. Một số công trình được xây dựng mới, đáng chứ ý như: “Thành Quảng Bình”, “”, “Cửa Võ Thắng quan” (còn gọi là lý Chính đại môn), “Cửa Hoàng Sơn quan ”…

Về văn hóa, dưới triều Nguyễn, nho giáo được phục hồi, văn hoá dân gian, vãn học chữ Hán, văn học chữ Nôm và sử học khá phát triển.

Về giáo dục, Gia Long cho lập Văn Mỉếu ở  các doanh các trấn, đặt Quốc Tử giám ở kinh đô Phú Xuân, mở khoa thi Hương, đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822) cho tổ chức thi Hội, thi Đình để lấy tiến sĩ, đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829) lại lấy thêm phó bảng để kén chọn người ra làm quan.

Trong thời kỳ chúa Nguyễn đến triều Nguyễn, trên vùng đất Quảng Bình đã sản sinh, nuôi dưỡng, tôi luyện và hun đúc nên nhiều người con ưu tú, là danh nhân, anh hùng hào kiệt đã có nhiều đóng góp vô cùng to lđn trong việc cai trị, dựng nước, giữ nước và mở mang bờ cõi về phương Nam qua các triều đại phong kiến, như: “Tứ triều nguyên lão” Võ Xuân Cẩn; Thượng thư Nguyễn Đăng Tuân – Hiệp biện Đại học sĩ; Thượng thư Vũ Trọng Bình; Tướng quân ; Đô thống Lê Sĩ; Trần Mạnh Đàn; Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công lao đặc biệt trong mở cõi phương Nam, thiết lập hệ thống hành chính vùng đất Nam Bộ trong một thời gian rất ngắn (từ năm 1698-1700).

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược mước ta, nhân dân phải chịu cảnh áp bức, đô hộ của tư bản phương Tây. Năm 1885, triều đình Huế chính thức bị thất bại, thực dân Pháp chia đất nước ta thành 3 miền: Bắc Kỳ, Nam Kỳ và Trung Kỳ. Quảng Bình thuộc Trung Kỳ.

Sau sự kiện “Kinh thành thất thủ ”, đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5 Ất Dậu, Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra Tân Sở – Quảng Trị, xuống chiếu Cần Vương, mở đâu cho phong trào Cần Vương chống Pháp, sau đó nhà vua được hộ giá đến miền thượng du Tuyên Hoá – Quảng Bình lập căn cứ chống Pháp.

Việc đứng chân lâu dài của Sơn Triều chống Pháp do vua Hàm Nghi cầm đầu ở vùng thượng lưu sông Gianh trong suốt 3 năm (10/1885 – 10/1888) có sự đóng góp máu xương của biết bao sĩ phu, quan lại và nhân dân Quảng Bình. Nhiều thủ lĩnh nghĩa quân ở Quảng Bình đã không quản ngại tính mạng, gian khổ để xả thân giúp vua, cứu nước, bảo vệ Sơn Triều dấy lên nhiều cuộc khởi nghĩa như: Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực, Lê Mô Khởi, Mai Lượng, Cao Thượng Chí, Trần Văn Định, Đoàn Đức Mậu, Hoàng Văn Phúc, Đề Chít, Đề Én… Phong trào cần Vương ủng hộ vua Hàm Nghi và Sơn Triều kháng Pháp trên đất Quảng Bình được phát triển mạnh, biến Quảng Bình thành “Kinh đô kháng chiến” thời vua Hàm Nghi xuất bôn.

Đến năm 1889, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, phong trào cần Vương ở Quảng Bình tạm thời lắng xuống nhưng tinh thần yêu nưổc, lòng căm thù giặc của nhân dân vẫn âm ỉ cháy, rồi lại bùng lên mạnh mẽ trong các cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, trong các phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng… Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh lúc này do chưa có một đường lối chính tri đúng đắn, nên không thể đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi.

Đúng vào thời điểm nhân dân cả nước rất cần có một chính Đảng lãnh đạo, ngày 3/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng của giai cấp công nhân đảm đương sứ mệnh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Từ khi có Đảng lãnh đạo, các phong trào chống Pháp ở Quảng Bình phát triển ngày một mạnh mẽ và lan tỏa rất nhanh, các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống sưu cao, thuế nặng ở Quảng Bình hên tiếp nổ ra, các tổ chức cơ sở Đảng lần lượt ra đời ở Trung Lực, Mỹ Thổ (Lệ Thuỷ), ga BốTrạch, Lũ Phong (BốTrạch)…

Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng, với sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tình, nhân dân Quảng Bình đã tiếp tục viết nên những trang sử mới, vẽ vang và chói lọi.

Ngày 23 tháng 8 mùa Thu lịch sử năm 1945 là ngày đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng Bình, các tầng lớp nhân dân Quảng Bình đã nhất tề vùng dậy Tổng khởi nghĩa đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, góp phần cùng cả nước xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam được tuyên ngôn vào ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình.

Hưởng ứng lời kêu gọi gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình quyết tâm xây dựng và bảo vệ chính quyền, giữ vững thành quả cách mạng vừa giành được và đã đưa ra nhiều sáng kiến để cứu đói như lập hũ gạo cứu đói, ngày đồng tâm nhịn ăn, thành lập các đoàn cứu đói đi giúp đỡ nhân dân và lực lượng vũ trang… và đến ngày 27/3/1947, Đảng bộ, quân và dân Quảng Bình lại tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), với thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, quân và dân Quảng Bình đã cùng với cả nước đánh thắng mọi âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng tiềm lực cho cuộc kháng chiến, tổ chức nhiều chiến dịch và trận đánh hay, tiêu diệt và tiêu hao các lực lượng chủ lực của thực dân Pháp trên địa bàn Quảng Bình. Nhân dân Quảng Bình đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để làm nên cao trào “Quảng Bình quật khởi” ngày 15/7/1949 với những chiến công vang dội của Cảnh Dương, Cự Nam, Hưng Đạo, Xuân Bồ làm cho giặc Pháp bao phen khiếp vía kinh hồn. Đồng thời, chính từ phong trào “Quảng Bình quật khởi” đã động viên khí thế quân và dân tình Quảng Bình đoàn kết, chiến đấu kiên cường phá tan thế kìm kẹp của kẻ thù, mở rộng vùng giải phóng cùng cả nước đưa sự nghiệp kháng chiến “toàn dân, toàn diện” đi đến thắng lợi, góp phần cùng cả nước đánh bại thực dân Pháp xâm lược làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Quảng Binh đã đánh 6.140 trận lớn nhỏ, giết và bắt sống 9.957 tên địch, thu giữ 862 phương tiện thiết bị quân sự của địch; và được tuyên dương 3 anh hùng: Lâm úy, Cao Thế Chiến, Trương Văn Ly.

Sau ngày Quảng Bình hoàn toàn giải phóng (1954), Quảng Bình được xác định là tuyến đầu miền Bắc. Mọi hoạt động kinh tế, xã hội trên mảnh đất Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh có ảnh hưởng trực tiếp, quan trọng đối với cách mạng miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ Quảng Bình đã bắt tay thực hiện công cuộc hàn gắn vết thương sau chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, thúc đẩy sự phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng.

Trải qua 10 năm khỏi phục, xây dựng và phát triển kinh tế (8/1954 – 8/1964), với phương châm tự lực cánh sinh là chính, quân và dân Quảng Bình đã nổ lực vượt bậc làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt quê hương cả về kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội và quốc phòng – an ninh. Phong trào hợp tác hoá đã thu hút hàng vạn người dân lao động đi theo con đường làm ăn tập thể. Lần đầu tiên ở Quảng Bình xuất hiện những xí nghiệp quốc doanh sản xuất và góp phần cung ứng hàng hóa tiêu dùng cho nhân dân. Các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục đều phát triển. Đặc biệt, Quảng Bình tập trung xây dựng hạ tâng, tăng cường tiềm lực đảm bảo hậu phương và thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng và nhân dân giao phó trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước vĩ đại của cả dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mĩ xâm lược của dân tộc, đương đầu với kẻ thù mạnh nhất thế giới, nhân dân Quảng Bình đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đức hy sinh tột độ “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược” để “chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi ”, tích cực chi viện cho miền Nam ruột thịt và chống lại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ngay trên quê hương.

Để luôn đảm bảo “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” và “Trút gạo trong nồi cho Trị Thiên đánh Mĩ”, nhân dân Quảng Bình đã tích cực “Bám làng mà chiến đấu, bám đồng ruộng mà sản xuất, bám hố bom mà thâm canh” ngay dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù.

Bom đạn đế quốc Mĩ đã dày xéo làm rung động cả trời đất, lay chuyển cả núi rừng, nhưng không thể lay chuyển nổi tinh thần sắt đá, ý chí quật cường của nhân dân Quảng Bình vđi phong trào “Tiếng hát át tiếng bom, tiếng loa hòa tiếng súng” và đã hy sinh tất cả “Nhà tan cửa nát cũng ừ, đánh thắng giặc Mĩ cực chừ sướng sau” để thông huyết mạch giao thông chi viện cho tiền tuyến “Xe chưa qua, nhà không tiếc; đường chưa thông, không tiếc máu xương”, góp phần đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, thu non sông về một mối. Trong thời kỳ này, quân và dân Quảng Bình đã bắn cháy, bắn rơi 704 máy bay các loại, bắn cháy, bắn chìm 86 tàu chiến, đánh tan 41 toán gián điệp, biệt kích, tiêu diệt và bắt sống 119 tên. Tuy nhiên bên cạnh chiến thắng lẫy lừng, nhân dân Quảng Bình phải gánh chịu nhiều mất mát, hy sinh, gian khổ. Quảng Bình phải gánh chịu hơn 8 vạn lần máy bay Mĩ đánh phá (trong đó có 2.172 lần bằng máy bay chiến lược B.52) với hơn 1,5 triệu tấn bom cùng hàng chục vạn quả rốc-két, tên lửa và 14 vạn quả pháo từ tàu chiến. Bom đạn Mĩ đã giết hại 12.330 người, làm bị thương 18.434 người dân Quảng Bình, đốt cháy và đánh sập hàng vạn nóc nhà.

Trong khói lửa chiến tranh hủy diệt của kẻ thù, Quảng Bình đã rất xứng đáng với sứ mệnh mà Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước tin tưởng giao phó: vừa là tiền tuyến của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lổn miền Nam anh hùng.

Vổi những chiến công xuất sắc của quân và dân Quảng Bình trên mặt trận sản xuất và chiến đấu trong thời kỳ này đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 979 Huân chương các loại và tuyên dương 11 Anh hùng Lực lượng Vũ trang, 16 Anh hùng Lao động.

Nhìn lại toàn bộ quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược của quân và dân Quảng Bình, chúng ta càng tự hào với những chiến thắng mà nhân dân Quảng Bình đã giành được. Thành quả to lớn ấy trước hết là do đường lối đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi đó đã khẳng định sự ra đời, tính cách mạng và tính khoa học của một phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, một nền nghệ thuật quân sự của chiến tranh toàn dân và toàn  diện ở nước ta, phù hợp vđi quy luật của chiến tranh cách mạng để tiến hành cuộc kháng chiến, kiến quốc thắng lợi. Trong hai cuộc kháng chiến này, nhân dân Quảng Bình đã phải gánh chịu nhiều gian khổ, đau thương, mất mát và hy sinh cho tổ quốc trường tồn, cho non sông Việt Nam nối liền một dải, cho đất nước thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà… Đồng thời nhân dân Quảng Bình đáng tự hào về những người con ưu tú của quê hương đã có nhiều đóng góp to lớn cho đất nước trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, như: Thiếu tướng Hoàng Sâm, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, Trung tướng Mai Xuân Vĩnh, Trung tướng Lê Văn Tri, Thiếu tướng Phan Khắc Hy và đặc biệt Đại tướng – Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người Anh Cả của lực lượng vũ trang Quân đội Nhân dân Việt Nam, một trong những thiên tài quân sự lớn nhất trong lịch sử – vị tướng huyền thoại đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử trong cuộc trường chinh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

Sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), non sông thu về một mối, Bắc – Nam sum họp một nhà, nhân dân Quảng Bình đã tích cực khắc phục khó khăn, giải quyết những hậu quả do chiến tranh để lại và đã tích cực tiếp tục chi viện sức người, sức của cho Quảng Trị và Thừa Thiên trong việc tiếp quản và ổn định tình hình, đồng thời giúp đỡ cho tỉnh và Savanakhẹt (Nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào) trong giai đoạn đầu sau khi kết thúc chiến tranh đang gặp nhiều khó khăn với tinh thần quốc tế vô sản “trong sáng thủy chung ”.

Thực hiện Nghị quyết số 245 ngày 20/9/1975 của Bộ Chính trị, về việc quyết định hợp nhất ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và khu vực Vĩnh Linh thành tỉnh Bình-Trị-Thiên, ngày 01/5/1976 tại Quảng trường Phu Văn Lâu Huế, ủy ban nhân dân cách mạng Bình Trị Thiên công bố và ra mắt trước toàn thể đồng bào, cán bộ, chiến sĩ trong tỉnh.

Có thể nói, với quyết tâm cao độ, trong 13 năm nhập tỉnh, Đảng bộ và nhân dân ở Quảng Bình trong tỉnh Bình Trị Thiên đã thể hiện tinh thân cách mạng, nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, bước đầu thực hiện công cuộc đổi mới đã có những chuyển biến tích cực.

Để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân cũng như phát huy tính chủ động, tích cực sáng tạo và sức mạnh nội lực của từng địa phương, ngày 30/6/1989, Quốc hội khóa vin, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Nghị quyết về việc phân chia địa giới hành chính của tỉnh Bình Trị Thiên thành ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1989, Quảng Bình chính thức được tái thiết.

Sau 25 năm tái thiết, kế thừa và phát huy những tinh hoa và truyền thống quý báu của quê hương, đất nước, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình đã đoàn kết một lòng, cần cù, chịu khó, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, huy động mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, lao động sáng tạo, mở rộng hợp tác đâu tư, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển bền vững kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần xây dựng quê hương Quảng Bình ngày càng giàu mạnh và văn minh.

Chính lịch sử, thiên nhiên đã tạo nên không gian văn hóa Quảng Bình, khắc nghiệt của thiên nhiên, thử thách ác liệt của lịch sử đã gây ra biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hy sinh đè nén lên mối người dân Quảng Bình, nhưng không bao giờ khuất phục được, mà ngược lại bằng ý chí và nghị lực phi thường, họ đã chiến thắng và làm chủ quê hương, đất nước.

Quảng Bình là vùng đất “Địa linh, Nhân kiệt” và “Văn vật”, đây là một ứong những cái nôi thu hút và môi trường đào luyện nhiều nhân vật lịch sử, hiền tài, thiên tài của đất nước như: Lý Thường Kiệt, Trần Bang cẩn, Hồ Cưỡng, Hoàng Hối Khanh, Đào Duy Từ, Phan Thúc Duyên,… Đây là vùng đất có nhiều làng khoa bảng, văn hóa danh tiếng, được truyền tụng từ đời này sang đời khác như “Bát danh hương “Sơn – Hà – Cảnh – Thổ – Văn -Võ-Cổ-Kim ” và Phù Lưu, Lộc Điền, Cao Lao, Lý Hòa, Trung Bính, Quảng Xá, Mỹ Lộc, An Xá, Phù Chánh, Hòa Luật, Đại Phong, Lộc An…, nơi đã sản sinh, nuôi dưỡng, tôi luyện và hun đúc nên nhiều bậc danh nhân, anh hùng, hào kiệt, trí dũng song toàn, đa văn quảng kiến, làm rạng danh cho vùng đất “Địa lỉnh, Nhân kiệt”, mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc và bao thế hệ cộng đồng cư dân Quảng Bình, như: Trương Xán, Dương Văn An, Nguyễn Đăng Tuân, Võ Xuân Cẩn, Nguyễn Duy cần,… trên con đường khoa bảng và quan trường; Nguyễn Hàm Ninh, Hàn Mạc Tử, ,… trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật; Trong lĩnh vực quân sự có những tướng lĩnh tài ba, tiếng tăm lừng lẫy như: Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Cảnh, Trương Phúc Phấn, Hoàng Kế Viêm, Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân,… đặc biệt Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại tướng huyền thoại, nhà quân sự thiên tài, nhà văn hóa lđn, tên tuổi và sự nghiệp chói lọi, vang lừng cả thế giới,… họ là những bậc tinh anh, hiền tài và là hào quang tỏa sáng muôn đời, tên tuổi và sự nghiệp của họ được sử sách ghi công, nhân dân tôn thờ và trường tồn mãi mãi.

Và khi nói đến vùng đất “Địa linh, Nhân kiệt” và “Văn vật” ở Quảng Bình, không thể không nói đến văn hóa gia đình và dòng họ. Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, nhiều gia đình và dòng họ đã xây dựng và lưu giữ truyền thống tốt đẹp riêng. Có nhiều gia đình và dòng họ vang danh bởi nghiệp khoa cử. Có những gia tộc vốn xuất thân bình dân nghèo khó nhưng đã vươn lên bằng những cá nhân đột khởi để phát triển thành những cự tộc giàu truyền thống. Cũng có những gia đình và dòng họ nối đời làm nghề và phát triển ngành nghề thủ công với nhiều thế hệ nghệ nhân tài ba; có những gia đình và dòng họ với những thương nhân nổi tiếng… Tiêu biểu có dòng họ Nguyễn Hữu với danh nhân Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật và gia tộc. Nguyễn Hữu Dật đã cùng với và kế nghiệp Đào Duy Từ có công xây dựng, mở mang vùng đất Quảng Bình xưa; Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh – người có công khai mở đất phương Nam; Nguyễn Hữu Hào với tác phẩm truyện Nôm “Song Tinh Bất Dạ” nổi tiếng; Nguyễn Hữu Thuyên vị thống suất bình Chân Lạp giữa thế kỉ XVIII. Dòng tộc họ Trương với danh nhân Trương Phúc Phấn, quê ở Quảng Ninh, giữ chức Quận công thời nhà Lê, theo chúa Nguyễn, có công cùng Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật trấn giữ lũy Trường Dục và xây dựng vùng Khang Lộc; và Trương Phúc Phan từng làm Trấn thủ Trấn Biên lấy lại Côn Đảo từ quân Anh. Dòng họ Hoàng ở làng Văn La, Quảng Ninh với hai bậc học tài danh Hoàng Kim Xán và Hoàng Kế Viêm, trong đó  Hoàng Kim Xán (thân sinh Hoàng Kế Viêm) là Thượng thư triều Nguyễn, đã có công giúp triều Nguyễn chính sách tri nước, yên dân, tài cao, học rộng, chính trực; Hoàng Kế Viêm – danh tướng triều Nguyễn, có công lớn trong thời kỳ đầu chống Pháp. Dòng họ Nguyễn Đăng ở làng Phù Chánh, huyện Lệ Thủy, cả 5 đời từ ông tổ Nguyễn Đăng Tuân đến hậu duệ kế tục là Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Đăng Hành, Nguyễn Đăng Cũ, Nguyễn Đăng Cư đều đỗ đại khoa, làm quan có công lớn. Dòng họ Nguyễn Duy ở làng Lý Hòa, Bố Trạch, từ cụ tổ Nguyễn Duy cần cùng các con cháu là Nguyễn Duy Miễn, Nguyễn Duy Thắng, Nguyễn Duy Đồng, Nguyễn Duy Tích, Nguyễn Duy Thiệu, một nhà học tài, tiếng tăm lừng lẫy. Dòng họ Trần ở làng Vạn Xuân, xã , huyện Quảng Ninh, với danh tướng Trần Tùng, dưới thời nhà Trần đã đươc cử đi chinh phạt Chiêm Thành, trải 20 đời, ngót 600 năm, có nhiều hậu duệ phát khoa; và các gia đình, dòng họ của các danh nhân khác…

Dù sinh ra ở vùng đất nghèo khó, lại xa chốn kinh kỳ, tưởng rằng người Quảng Bình khó có thể với tới được những đỉnh cao trong học hành, khoa cử. Nhưng không, những trở ngại của điều kiện tự nhiên, những khó khăn về hoàn cảnh kinh tế không những không làm mờ nhạt đức hiếu học mà hơn thế, còn gia tăng ý chí và nghị lực trong học hành, khoa cử. Thời phong kiến, ở các triều Trần, Lê, Mạc, Quảng Bình đã có 5 vị đỗ đại khoa (1 trạng nguyên, 4 tiến sĩ). Đến triều Nguyễn, trong 40 kỳ thi hội do triều Nguyễn đã tổ chức, Quảng Bình là một trong những tỉnh có số người đậu đại khoa nhiều nhất với 22 tiến sĩ, 3 hoàng giáp, 19 phó bảng, 270 cử nhân và hàng trăm tú tài trong các kỳ thi hương.

Nhìn lại những chặng đường lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất và tỉnh Quảng Bình từ thời kỳ sơ sử cho đến nay, đặc biệt từ năm 1069, khi trở về quốc gia Đại Việt và năm 1604 – năm hình thành tỉnh Quảng Bình, danh xưng Quảng Bình chính thức đi vào lịch sử dân tộc và tồn tại sâu thẳm trong mỗi một người dân cho đến hôm nay; chúng ta tự hào về các giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống cách mạng của vùng đất Quảng Bình, tự hào về các thế hệ cha ông đã có công xây dựng và bảo về quê hương, tự hào về những chặng đường lịch sử vẽ vang và hào hùng, những trang sử vàng chói lọi của của quê hương Quảng Bình “Địa linh, Nhân kiệt”, “Quật khởi” và “Hai giỏi” trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc.

Những giá trị truyền thống văn hóa nói trên đã được nuôi dưõng, phát triển qua các thế hệ cư dân và đã tạo nên một sắc diện văn hóa đặc sắc Quảng Bình hôm nay.

Thế hệ trẻ hôm nay và mai sau cần phải có trách nhiệm tiếp bước những chặng đường lịch sử vẻ vang và hào hùng của bao thế hệ cha ông, ghi tiếp những trang sử vàng chói lọi của quê hương, đất nước; phát huy cao độ truyền thống yêu nước nồng nàn, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết, anh dũng, kiên cường, bất khuất trong chiến đấu; cần cù, sáng tạo với ý chí nghị lực phi thường trong lao động, học tập của các thế hệ cư dân Quảng Bình; khơi dậy niềm tự hào dân tộc, lòng tự hào về truyền thống vẻ vang và hào hùng của bao thế hệ cha ông, của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tình nhà trong suốt tiến trình lịch sử cho đến nay, phát huy các giá trị và bồi đắp thành sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương Quảng Bình ngày càng giàu đẹp, văn minh, nhân dân ấm no hạnh phúc.

– TS Nguyễn Đức Lý – CN Nguyễn Đăng Tuấn – Sở KHCN Quảng Bình

Loading...

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here