13.7 C
New York
Thứ Hai, Tháng Mười 18, 2021

Đi tìm hồn cốt của biển… – Kỳ 2: Lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên và điệu trống "cà rừng

- Advertisement -

Theo nhiều nhà nghiên cứu, không ít làng quê Quảng Bình hiện vẫn còn duy trì lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên, nhưng có lẽ, không nơi nào, lễ hội này lại được tổ chức thường xuyên, lớn về quy mô, phong phú về nội dung như ở làng Đồng Hải (TP.Đồng Hới) xưa. Nay, điều đáng mừng là lễ hội độc đáo Xuân Thủ Kỳ Yên vẫn còn được duy trì ở một số thôn của xã biển Bảo Ninh, như: Mỹ Cảnh, Sa Động, Trung Bính…, vừa góp phần tạo nên một điểm nhấn trong sinh hoạt cộng đồng của địa phương, vừa bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của cha ông để lại. Chỉ tiếc là việc quảng bá lễ hội này vẫn chưa được quan tâm để đẩy mạnh hoạt động du lịch của Bảo Ninh nói riêng và TP.Đồng Hới nói chung.

>> Kỳ 1: Những điệu hò vang vọng từ biển khơi

Ông Võ Văn Hậu, Trưởng thôn Sa Động (Bảo Ninh) cho biết, lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên, hay còn gọi là lễ hội cầu an, trước đây thường được tổ chức vào đầu tháng 2 âm lịch hàng năm. Nhưng, với tàu cá công suất lớn, công nghệ đánh bắt hiện đại, bà con ngư dân thường đánh bắt xa bờ vào đúng thời điểm này, do đó, hơn chục năm trở lại đây, lễ hội chuyển sang tổ chức vào rằm tháng giêng âm lịch, nhằm ngày 15 và 16 hàng năm. Nhờ vậy, đông đủ con em của thôn đều có thể tham gia lễ hội.

Ngoài lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên, Sa Động vẫn duy trì lễ cầu mùa vào rằm tháng 4 và lễ chạp mả, cô hồn vào rằm tháng 7. Ý nghĩa to lớn của lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên chính là để tưởng nhớ các bậc khai sinh lập làng và để cầu cho trời đất yên bình, phù hộ cho con em Sa Động vững vàng bám biển.

Theo nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Hiên, lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên ngày xưa luôn đầy đủ trình tự các lễ, gồm: lễ nghinh xuân, lễ tế xôi hôm, lễ bốc thăm, lễ xướng sổ hương ẩm, lễ tế xôi mai, lễ đổ phù hương. Hiện nay, do nhiều điều kiện chủ quan, khách quan, các nghi lễ đã được tinh giảm, nhưng về tinh thần, hồn cốt vẫn không hề thay đổi.

Từ đầu năm, Chi bộ thôn cùng với Ban tự quản thôn, các đoàn thể, như: Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên đã có sự chỉ đạo, phân công, chuẩn bị sẵn sàng cho lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên. Trong đó, lễ nghinh xuân được chuẩn bị chu đáo với trọng tâm là việc tập bộ  trống nhạc “cà rừng” của Hội Nông dân.

Ông Hoàng Sung (60 tuổi) là người nắm rõ nhất quy luật của bộ trống này và thường xuyên luyện tập cho các thành viên. Bộ trống nhạc “cà rừng” còn có tên gọi khác là trống ngũ lôi, gồm 5 trống con và 1 trống cái. Điểm độc đáo của bộ trống nhạc “cà rừng” chính là ở nhịp 3, vừa thúc giục, rạo rực đoàn diễu hành, lại vừa chậm rãi, uy nghiêm, hùng hồn mà thân thuộc, gắn bó, khác với cái dồn dập, sải bước nhanh của bộ trống kèn Tây. Tương truyền, bộ trống nhạc “cà rừng” xuất phát từ ngư dân Thanh Hóa di cư vào Bảo Ninh trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Trống nhạc “cà rừng” được truyền từ những trận đánh với tiếng trống trận thúc giục lòng quân.

Để đánh tạm gọi là thành thục bộ trống nhạc “cà rừng”, một người phải luyện tập thường xuyên gần 3 năm trời ròng rã và phải luyện tập đủ tất cả các thành viên, không thể tập riêng rẽ. Thế mới biết để đánh được trống “cà rừng” khó đến như thế nào. Nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Hiên cho biết, hiện nay, ở Quảng Bình, chỉ còn ở Sa Động là bảo tồn được hình thức trống cổ đặc sắc này.

- Advertisement -

Lễ nghinh xuân, hay còn gọi là lễ rước văn, bắt đầu lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên được diễn ra vào chiều ngày 15 tháng giêng âm lịch. Với mục đích rước thần linh sơn thủy, xuất phát từ lăng thờ Cá Ông, đoàn diễu hành gồm toàn bộ dân Sa Động sẽ đi bộ xung quanh làng, đi đầu là hàng người cầm cờ đại, cờ xéo, người truyền lệnh và không thể thiếu bộ trống nhạc “cà rừng” và chiêng lớn. Tới các ngã ba, ngã tư, đoàn người đều dừng lại để tế lễ tại các bàn thờ đã được nhân dân lập từ trước. Ông hội chủ thay mặt đoàn thắp hương, khấn vái, cầu mong an lành cho dân làng. Kết thúc lễ nghinh xuân, bà con tập kết tại lăng thờ

Cá Ông và tổ chức lễ an vị. Đúng 20h cùng ngày, lễ tế cầu yên (lễ cúng gà) được diễn ra linh thiêng, kính cẩn. Sáng ngày 16, làng tiếp tục tổ chức lễ xuân thủ, tập trung tất cả bà con dân làng cùng tham gia. So với các lễ tế ngày trước, lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên nay đã phôi pha ở một vài khâu trong tế lễ, như: thiếu vắng lễ bốc thăm, lễ đổ phù hương…

Lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên ở các thôn của Bảo Ninh dù năm nào cũng tổ chức nhưng mới chỉ diễn ra trong phạm vi của làng, do đó, việc quảng bá đến với du khách thập phương vẫn chưa được chú trọng. Ông Võ Văn Hậu, Trưởng thôn Sa Động bày tỏ mong muốn của bà con được các cấp, các ngành, chính quyền địa phương quan tâm hơn để đưa nét văn hóa độc đáo này vào sự phát triển du lịch của xã, của thành phố. Nếu được đầu tư cả về kinh phí và sự tham gia của các nhà nghiên cứu, chắc chắn tính nhân văn, tính cộng đồng của lễ hội sẽ còn được mở rộng và đặc sắc hơn, thay vì tổ chức ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún ở một số thôn như hiện nay.

Theo Báo Quảng Bình

Lễ rước thần ở đình làng
– Vào dịp đầu xuân, các làng xóm thường có lễ Xuân Thủ ở đình làng. Trong lễ thường có buổi rước thần.
Theo truyền tụng thì rước thần có mục đích chính là mời các vị thần, trong đó, vị thần chính là thần Thành Hoàng Bổn Thổ đi ngự xem giang sơn phong thổ và dân tình một năm qua có gì thay đổi. Rước thần còn gọi là nghinh thần.
Đi đầu đoàn rước thần là hai hàng người cầm cờ và người cầm loa truyền lệnh dọn đường.
Tiếp theo, đội trống cà rừng và một số nhạc công như nhị, sáo, kèn, bạt, hợp tấu với trống cà rừng. Không ai hiểu vì sao đội trống kèn này lại có tên là “cà rừng”, nhưng khi nghe tiếng trống thì quả là âm thanh của nó gần đúng như tên gọi.
Một đội trống cà rừng gồm từ ba đến sáu người, mỗi người mang một chiếc trống trước ngực, mặt trống ngửa lên, người nhạc công phải gõ trống cả hai tay theo chiều thẳng đứng trên mặt trống (khác với cách đánh trống điểm ở trống đại). Đội trống cà rừng bao gồm cả bộ phận trống đại điểm cho trống cà rừng. Tóm lại, toàn đội trống cà rừng gồm có:
– Ba hoặc bốn, năm, sáu chiếc trống cà rừng.
– Một chiếc trống đại có hai người khiêng và một người đánh.
– Vài ba nhạc công kèn, nhị, bạt v.v. . .
Loại trống cà rừng chỉ sử dụng riêng trong các lễ rước thần. Nó không được dùng trong các đám rước khác. Cho nên, trong làng xã, nếu nghe tiếng trống cà rừng đâu đó thì người ta biết chắc đó có rước thần.
Trống cà rừng bắt buộc nhạc công phải đeo trước ngực. Trống có hai mặt, bịt bằng da bò thuộc mỏng, đường kính mỗi mặt trống khoảng 30cm, chiều cao chang trống chừng 28cm làm bằng gỗ mít, có khi là cả thân cây mít đục rỗng. Trống hình trụ, giữa lưng chang trống rộng hơn hai đầu mặt trống. Chu vi giữa chang trống, chỗ rộng nhất là 1m14. Nếu tính đường kính, có thể là 36cm, rộng hơn hai mặt 5 cm.
Người nhạc công đánh trống bằng hai cái dùi bằng gỗ táu, tiện tròn, đầu lớn đầu nhỏ; đầu lớn có đường kính 3cm, đầu bé 1,5cm, chiều dài dùi trống là 40 cm.
Như trên đã nói, trống cà rừng luôn có bộ phận trống đại kèm theo để điểm đệm cho cà rừng.
Tuy nhiên, trống đại ở đây không phải là loại trống đại đi đôi với chuông trong bộ “chung cổ”. Nó khác ở chỗ kích thước nhỏ hơn đôi tí đã đành nhưng nó khác nhất là ở chỗ âm thanh giữa nó với trống đại chung cổ.
Rước thần là loại rước có bước diễu hành rất chậm, khoan thai, thư thả, dịu dàng và tôn nghiêm, kính cẩn khác với lối diễu binh, bước quân hành hùng dũng, mạnh mẽ, nhanh gấp, dứt khoát.
Thần ngự khác với quân đi, mặc dầu trong rước thần cũng có quân lính (tượng trưng) theo hầu. Cho nên trống cà rừng tuy cũng là trống diễu hành, cũng thúc giục rộn ràng, cuốn hút nhưng thư thái, hình như khuyến khích người tham gia đám rước chỉ cần nhích lên từng bước, ung dung tuần tự mà đi, chớ vội vàng. . .
Tiếng trống nghe xao xuyến, giục giã mà từ tốn; oai nghiêm, ngân vang mà cũng dịu dàng, lắng động… là phần nhiều nhờ ở tiếng trống đại điểm nhịp.
Cái tinh tế của tiếng trống đại trong đội trống cà rừng là ở chỗ: Khi đám rước đang trên đường đi, bước diễu hành đang đều đều chầm chậm, tiếng trống cà rừng dù chỉ một thanh “rừng” hay hai thanh thành đôi “rưng, rừng” thì âm thanh của nó chỉ gần bằng nhịp “hai – bốn” trong tân nhạc, tiếng trống đại điểm cho nó cũng chỉ bằng một thanh độc nhất, nhưng lại ngân dài, lan tỏa rộng hơn cả những tiếng trống cà rừng… Tiếng trống đại điểm nhịp lúc này giống như trong hành văn, nhà ngôn ngữ học sử dụng chấm lửng cuối câu sau những chặng ngắt ý bằng dấu phẩy…
Khi đám rước dừng lại một điểm nào đó, (thường là dừng lại ở trước đền miếu thờ các vị thần ngoài vị Thành Hoàng Bổn Thổ) và khi đám rước về trở lại ngôi đình đã xuất phát, thì tiếng trống cà rừng lúc này rất dồn dập, giục giã, gấp gáp, cáp bách đến kỳ lạ, ngược hẳn lúc đang đi diễu hành.
Lúc này, những thanh âm “rưng… rừng… rừng rừng… và tiếng trống đại điểm thùng” đều ngắn, tròn trặn, dứt khoát, như một dấu chấm than (!) trong một câu văn.
Có thể mô tả lại lối diễn tấu của trống cà rừng như sau:
– Khi đi đường dài: Rưng… rưng rưng… thùng… hoặc: rưng… rưng… rưng rưng… rưng rưng… tùng (nhịp ba – bốn… khoan thai)
– Khi đứng lại hay dừng hẳn, chấm dứt: Rưng… thùng! Rưng… thùng!… rưng rưng… rưng rưng… thùng! Rưng… thùng, rưng… thùng! Hoặc: rưng, rưng, rưng… thùng! Rưng, rưng.. thùng… thùng thùng… (càng về sau càng nhỏ dần)
Nhân đây, chúng tôi xin thêm một điểm nhỏ về trống nhạc diễu binh và diễu hành trong đám rước thần, để bạn đọc thấy hết tính chất nghệ thuật giữa hai loại nó khác nhau như thế nào.
Ở diễu hành rước thần, trống cà rừng thư thái khi đang đi và thúc giục, dồn dập khi dừng lại.
Ở diễu binh, trống nhạc giục giã khi đang đi và dịu dàng êm ả khi dừng lại…
Do đó, tiếng trống đại điểm nhịp cho cà rừng phần nhiều là một tiếng, rất ít khi tiếng đôi liên tục (chỉ trừ khi chấm dứt hẳn, nhưng lúc này thì hạ dần gần như không còn nữa). Nhưng, cũng một tiếng trống đại điểm nhịp đó mà khi điểm nhịp trên đường dài của đám rước thì âm thanh cũng kéo dài và khi đám rước dừng lại thì âm thanh của nó lại ngắn gọn, tròn trịa một cách gọn gàng. Người rành nghe hay quen thuộc với nhiều đám rước khác nhau sẽ phân biệt được, sẽ biết được cái tinh túy của nó…
Trong một đám rước thần, tiếng trống cà rừng cộng hường với rất nhiều thứ âm thanh khác như những bản tấu nhạc của đội nhạc ngũ âm, tiếng trống cơm với tiếng kẻng, tiếng loa “lộ bố”, (ban bố lệnh trên đường đi của thần) cho âm linh, oan hồn tránh đường; và tiếng chuông trống lớn chầu hàu cộng thêm hàng ngũ lọng tàn, cờ quạt cùng mùi hương trầm mà thêm tôn nghiêm, oai vệ…
Xin trở lại trật tự kết cấu của đám rước. Như trên đã nói, đi sau đội trống cà rừng là đội nhạc ngũ âm, gồm đủ trống kèn, sáo, nhị, bạt… Tiếp đến là trống đại, chuông lớn, cứ ba tiếng chuông là tiếp theo ba tiếng trống, nhịp chậm… Sau hàng trống và nhạc là hương án có đủ đèn lư bằng đồng, bình hoa, quả nải… Hương án thay cho bàn thờ trong đám rước, trên đặt các hộp sắc bằng vua phong cho các vị thần thánh từ các miếu, các đền rước về làng, xem như các vị thần đang ngồi trên hương án để đi về đình làng.
Đi sau hương án là đội binh bảo vệ ngai vàng. Độ binh được trang phục đúng như binh lính thật của nhà vua nhưng trang bị bằng binh khí gỗ mà hình dáng giống như thực… Sau đội binh là Ngai Thần, sơn son thếp vàng giống như ngai vua thật, chỉ khác là trên ngai không có vua và người ngồi. Ngai Thần cũng được một đội binh 4 người khiêng, có 4 lọng vàng che. Trước bệ ngai còn có một chiếc lư trầm bằng đồng lớn, đốt trầm hương mà không có đèn nhang như ở hương án. Tiếp Ngai Thần là vị chánh tế chủ bái của làng đi theo hầu. Vi này cũng được che hai hay một lọng xanh, tùy theo chức tước của vị đó. Cuối đám rước là một đoàn người cầm cờ giống như đội cờ đi đầu.
Đoàn rước thần đi khắp các nẻo đường chính trong làng. Những nhà ở hai bên đường mà đám rước sẽ đi qua đều tự nguyện dọn bàn thờ, lương án, hương đèn nghi ngút chờ đón đám rước đi qua, chủ nhà mang áo rộng xanh, chít khăn đóng đen vái lạy chào mừng, giống như nghênh giá đức vua .
Sau lúc đám rước thần trờ về đình làng, làng làm lễ tế. Nhân dân, tùy khả năng, lòng thành, bưng lễ vật của mình đến tế thần, bên cạnh lễ vật của làng.
Việc tế lễ ở đình làng, nói chung, nơi nào cũng giống nhau… Nếu muốn đi tìm những nét đẹp riêng trong việc thờ cúng và tế lễ ở tỉnh ta, thì chúng tôi thử nêu lên một tục lệ nói là lạ lùng cũng được, nói là văn minh cũng được, vì nếu chúng ta đi ngược thời gian một chút, quay về thời phong kiến triều Nguyễn trước Cách mạng Tháng 8-1945, chắc chắn sẽ thấy tục lệ này là văn minh, là đẹp.
Như mọi người đều biết, ngày xưa chế độ đình trung ở làng xã, không nơi nào chấp nhận cho phụ nữ đến cúng bái, kể cả việc nấu ăn, sửa soạn lễ vật dâng thần. Nếu có một trường hợp nào, có một cô gái nhà ai đó phải bưng mâm giỗ thần cho cha, anh đến đình làng thì khi đến gần cửa tam quan, cũng giao lại cho ai đó là nam giới bưng vào đình hộ, rồi quay trở về. Đã là phụ nữ thì không được tới đình làng, trừ trường hợp, người nữ đó bị tội mà làng cho áp giải tới để trừng phạt.
Thế mà, ở Thuận Bài (nay thuộc xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch) có lệ: trong các ngày lễ tế Thành Hoàng Bổn Thổ như lễ Xuân Thủ, Kỳ Yên hàng năm, làng tổ chức một cuộc thi “Cỗ Bánh dân thần” dành riêng cho phụ nữ. Các cô gái trong làng được phép tự bưng cỗ bánh do mình chế biến đến đình làng để dự thi tài gia chánh. Cỗ bánh nào được làng chọn làm giải thưởng thì chủ nhân nó được bê đặt lên bàn thờ dâng thần ngự lãm, và dĩ nhiên là cô gái được dự lễ tế thần. Có lẽ đây là một tục lệ hiếm thấy và cũng là ngoại lệ, nếu không dám nói có một không hai dưới thời phong kiến. Với phong tục này ở Thuận Bài mà nhìn rộng ra thì trong việc tín ngưỡng đa thần, người mình còn thờ khá nhiều nữ thần. Ví dụ: Các làng biển làng nào cũng thờ Đại Càn tứ vị thánh nương, các làng vùng gò đồi thì thờ Liễu Hạnh công chúa, nhiều nơi thờ Nữ thần Thiên Y-A-Na, thờ Trưng Nữ Vương, thờ Bà Hỏa, Bà Thủy, Bà Thổ, Bà Ngư, có làng thờ cả nữ Thành Hoàng Khai Canh. Trong gia đình thì nhân dân đều thờ Bà Bếp, Bà Mụ, Bà Cô, Bà Tổ Cô, Bà Thần Tài, trong tôn giáo thì thờ Quan Âm Thị Kính, Phật Bà Quan Âm… Thế mà, phụ nữ vẫn bị liệt vào thể chế “trọng nam khinh nữ” vì sao? Vậy thì, đứng trước các vị nữ thần trên đây, các bậc vua quan nam giới không quỳ lạy ư? không tôn trọng ư?

Lễ hội chèo cạn, múa bông
Tối ngày 12/8/2009, UBND xã Bảo Ninh đã  tổ chức đêm lễ hội chèo cạn, múa bông với sự tham gia đông đảo của bà con địa phương. Đây là hoạt động nằm trong chương trình kỷ niệm 64 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và 5 năm Đồng Hới được công nhận thành phố.
Tham dự buổi lễ có đồng chí Nguyễn Xuân Quang, Ủy viên dự khuyết BCH TW Đảng, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Đồng Hới; đồng chí Trần Đình Dinh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố; đại diện TT HĐND, UBND, UBMTTP cùng lãnh đạo các ban, ngành liên quan.
Lễ hội chèo cạn, múa bông là hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc của người dân vùng biển Nhật Lệ nhằm cầu cho trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Bên cạnh các nghi thức cúng thần linh, ngư dân hò những làn điệu mái ba, mái nện, những câu hò xưa cùng với các điệu múa bông, chèo cạn, thể hiện lòng biết ơn đến các vị thần linh vùng sông nước, đồng thời tạo không khí thi đua sôi nổi trong lao động sản xuất và hưởng thụ nét văn hóa của cha ông ta từ xưa để lại.
Lễ hội múa bông chèo cạn thường được tổ chức trong các dịp lễ kỷ niệm lớn của dân tộc, đặc biệt, đây là một phần không thể thiếu trong Lễ hội Cầu ngư hàng năm của người dân Bảo Ninh.

Đi tìm hồn cốt của biển... - Kỳ 2: Lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên và điệu trống "cà rừng
Đi tìm hồn cốt của biển... - Kỳ 2: Lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên và điệu trống "cà rừng
Đi tìm hồn cốt của biển... - Kỳ 2: Lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên và điệu trống "cà rừng
Đi tìm hồn cốt của biển... - Kỳ 2: Lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên và điệu trống "cà rừng
Đi tìm hồn cốt của biển... - Kỳ 2: Lễ hội Xuân Thủ Kỳ Yên và điệu trống "cà rừng

- Advertisement -

bài liên quan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

kết nối

66,929Thành viênThích
283Người theo dõiTheo dõi
21,400Người theo dõiĐăng Ký
- Advertisement -

bài mới

- Advertisement -

được quan tâm