20 C
New York
Thứ Ba, Tháng Chín 28, 2021

Nữ thanh niên xung phong Anh hùng 5 lần được gặp Bác Hồ

- Advertisement -

 

“Còn vinh dự nào hơn nữa! 5 lần được gặp Bác, ăn cơm, trò chuyện với Bác là hạnh phúc và vinh dự lớn nhất của đời o rồi…”, nữ anh hùng TNXP Nguyễn Thị Kim Huế mở đầu câu chuyện với chúng tôi vào một ngày cuối tháng 7/2015 ngay tại căn nhà nhỏ nằm ven QL12A lịch sử ở Quảng Bình. Con đường huyền thoại gắn với những ký ức đau thương mà oanh liệt của người nữ anh hùng này.

Cả chục lần “truy điệu sống”

Nữ thanh niên xung phong Anh hùng 5 lần được gặp Bác Hồ

O Huế bên bức ảnh “Bác Hồ với TNXP”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cung đường 12A từ Quảng Bình đi Lào là bộ phận quan trọng của tuyến đường Trường Sơn, bởi vậy địch điên cuồng bắn phá suốt ngày đêm. Để bảo vệ đường thông suốt cho những chuyến xe qua, 182 người con Tuyên Hóa đã lập nên đơn vị 759, Tiểu đoàn 75 trực thuộc công trường 12A. Trong số này, có o TNXP Nguyễn Thị Kim Huế.

Sinh năm 1940, sớm mồ côi từ nhỏ, năm 19 tuổi dù đã có chồng nhưng o Huế vẫn dũng cảm viết đơn xin tham gia lực lượng TNXP thuộc công trường 12A máu lửa. O Huế được cấp trên phân làm Tiểu đội trưởng Đại đội 6 gồm 16 chị em. Tiểu đội của o Huế đảm nhiệm tuyến đường từ Khe Tang tới Cổng Trời, đoạn đường bị địch đánh phá ác liệt nhất.

Sau ngày Bác mất, o Huế được phép ra viếng Người, được để tang Người 3 tháng 10 ngày. Vinh dự hơn khi o cùng chị Trần Thị Lý là vai chính trong bộ phim mang tên “Đời hoạt động Bác Hồ với thanh niên Việt Nam”, rồi sang Nhật Bản và Trung Quốc để tuyên truyền về bộ phim này.

- Advertisement -

O Huế kể: “Buổi đầu vừa làm đường, giữ đường, vừa đảm bảo cho những đoàn xe an toàn trên cung đường mình đảm nhiệm, chỗ ở của các o chỉ là những lán trại di động theo vùng địch ném bom. Cái ăn chủ yếu là măng rừng, rau dại và phần lớn là ăn sống chứ không kịp nấu chín”.

Đối với những người nữ TNXP ngày ấy, ngoài chuyện ăn, ở thì: “Mỗi lần xuống suối tắm là chị em lại tranh thủ giặt luôn quần áo, rồi kín đáo phơi ở những cành cây ven suối, chấp nhận ngâm mình trong làn nước, chờ khi quần áo khô thì mới dám lên bờ để mặc”, o Huế nói.

Khó khăn vất vả là vậy nhưng đơn vị của o Huế vẫn không nản chí. Quyết tâm đánh giặc giữ đường của các o đã được chuyển hóa thành khẩu hiệu như: “Địch đánh rừng già, ta ra rừng non- Địch đánh rừng non, ta ra đồi trọc- Địch đánh đồi trọc, ta bám mặt đường”. Nói đến đây, chợt nước mắt o Huế chảy ướt đẫm gò má nhăn nheo: “Đau… Đau lắm con à! Chỉ một trận mà 10 đồng đội của o ra đi không lời từ biệt. Hàng chục người khác bị thương nặng được quân y đưa đi cấp cứu mà không biết sống chết ra sao”, o Huế nghẹn lời nói về trận đánh ngày 3/7/1966. Tại đây, 10 đồng đội của o Huế đã ngã xuống, nhưng chỉ ba trong số đó được tìm thấy thi thể; 7 đồng đội còn lại bị vùi lấp trong đất đá, máu thịt hòa cùng đất mẹ quê hương. “Suốt nhiều ngày sau, các o đêm thông đường, ngày đi tìm xác đồng đội. Xác cũ chưa tìm được, lại có đồng đội mất tích trong mưa bom. Mọi người phải dùng tay không bới từng thớ đất để tránh làm tổn thương tới đồng đội”, o Huế xúc động.

Người hy sinh được mai táng, truy điệu đã đành, nhưng với o Huế và các o TNXP trong tiểu đội, những “lễ truy điệu sống” trước lúc làm nhiệm vụ dường như đã quá quen thuộc. Bởi tuyến đường các o đảm nhận nằm trong vùng đánh phá trọng điểm của địch. Có người sáng tươi cười đi làm, trưa đồng đội đưa về chỉ là một dúm xương thịt lẫn trong đất đá, ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh…

“Ớt nhỏ nhưng mà cay”

Từ những chiến công trên tuyến đường đầy bom đạn, máu lửa, o Huế đã vinh dự được cử đi học tại trường Trung cấp Chính trị chuyên môn nghiệp vụ C Trưởng ở tỉnh Hưng Yên trong ba tháng. Kết thúc khóa học, o là “kiện tướng” ở cả bộ môn chạy bộ và bơi lội, là xạ thủ số một về bắn súng.

Lúc o vừa hoàn thành phần thi bắn súng, có một “ông cụ” chân đi dép cao su, đầu đội nón lá cọ đi tới và hỏi o với chất giọng miền Trung đặc sệt: “Mần răng cháu bắn giỏi rứa?”. Không biết “ông cụ” này là ai nhưng o vẫn lễ phép: “Dạ! Thưa cụ, cháu chỉ học lý thuyết thầy cô giảng và khi ngắm súng cháu lấy hết bình tĩnh lúc nào thấy “đầu ruồi đậu đít điểm đen” thì bắn ạ”. “Ông cụ” khen: “Giỏi lắm! Quê cháu ở mô?” o dõng dạc trả lời: “Dạ! quê cháu ở Quảng Bình, đơn vị C759 công trường 12A”. Tới chiều, lúc vào cuộc họp, “ông cụ” hỏi lớn: “Cháu gái Quảng Bình bắn súng giỏi hồi trưa mô?”. Khi đó, o mới biết đó là Bác Hồ và đứng dậy “Dạ!”  một tiếng rõ ràng. Rồi Bác khen: “Con gái Quảng Bình sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, làm gì cũng giỏi”. Đó là lần đầu tiên o Huế vinh dự được gặp Bác.

Cũng trong năm 1966, o Huế vinh dự có mặt trong Đoàn đại biểu ngành GTVT Quảng Bình ra báo cáo thành tích với Bác. Bác hỏi khi gặp đoàn: “Các chú, các cháu ở Quảng Bình ra thăm Bác có việc gì?”. Lúc này, đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác định cất lời nhưng Bác ngăn lại nhìn o và bảo: “Cháu gái vừa trẻ vừa giỏi báo cáo tình hình cho Bác nghe”. Ngay lập tức, o Huế đã khóc nói không nên lời. Thấy vậy, để o Huế bớt xúc động, Bác đưa ra những câu hỏi: Đơn vị có mấy người? Cuộc sống anh em thế nào? Công việc có vất vả lắm không?…

- Advertisement -

Rồi Bác hỏi tiếp: “Cháu đã có chồng chưa?” khiến o Huế lại khóc nghẹn. Đồng chí Vũ Kỳ liền trả lời: “Thưa Bác có rồi”. Bác lại hỏi: “Khi nào có con?” Lúc này o Huế mạnh dạn, bình tĩnh: “Dạ! Thưa Bác, đánh xong Mỹ, giải phóng miền Nam rồi cháu sinh con”. Nghe o trả lời dứt khoát, Bác mỉm cười và nói: “Không được, làm cách mạng là phải làm công tác gia đình, phải có con còn đánh Mỹ thì 5 năm, 10 năm hay lâu hơn nữa. Đánh Mỹ đời mình, đời con, đời cháu nữa nên phải có con”. “Lời dạy giản dị của Bác khiến o Huế nhớ mãi. Thì ra đánh Mỹ phải trường kỳ, đâu chỉ có đời ta quyết tâm đánh thắng là được”, o Huế nói.

Tại Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn quốc năm 1967, o Huế vinh dự có mặt trong Đoàn đại biểu gồm 11 người tỉnh Quảng Bình, đây cũng là lần thứ ba o được gặp Bác. Lần này, o Huế được vinh danh Anh hùng, được Bác Hồ tự tay gắn huy hiệu anh hùng lên ngực áo, quàng khăn rồi tặng một chiếc đồng hồ đeo tay của Nga. Sau Đại hội, Đoàn đại biểu Quảng Bình được Bác cho phép gặp Ban Bí thư Trung ương, o Huế lại một lần nữa vinh dự được báo cáo thành tích cho Ban Bí thư nghe. Lúc báo cáo tới cảnh các o tìm đồng đội “hốt từng nắm đất đá đưa lên ngửi…”, Bác Hồ đã bật khóc. Riêng nhà thơ Tố Hữu đã ôm o vào lòng và khóc lên nghẹn ngào. Buổi báo cáo đã phải kết thúc ở đây. Trước lúc đoàn ra về, Bác ân cần hỏi thăm rồi khen Quảng Bình hai giỏi: “Sản xuất giỏi- Chiến đấu giỏi”.

Lần thứ tư gặp Bác cũng là lần để lại trong o Huế cảm giác vinh dự nhất. Đó là dịp Đại hội TNXP lần thứ tư tháng 7/1967. Lần này, o Huế cùng chị Nguyễn Thị Nguyệt, dũng sĩ diệt Mỹ miền Nam thay mặt Đại hội tặng hoa cho Bác. Lúc Bác xuất hiện, o ào tới tặng hoa cho Người. Chính giây phút này, bức ảnh “Bác Hồ với TNXP” ra đời. Sau này, bức ảnh được in ra nhiều nghìn bản, lưu hành rộng rãi trong toàn quốc. Hiện nay, bức ảnh là một kỷ vật quan trọng, được o Huế đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà.

Lần gặp Bác cuối cùng của o Huế là dịp o được cử sang Liên Xô dự Lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng 10 Nga. Trước lúc đi, o được ăn cơm cùng Bác Hồ. Trong bữa cơm, Bác dặn dò cách cư xử, cách trả lời báo chí như thế nào… Trong bữa cơm có một câu chuyện mà o luôn ghi nhớ trong lòng và tới bây giờ o vẫn luôn kể với con cháu như một bài học đáng quý nhất trên đời. Chuyện là lúc ăn cơm, Bác bưng bát cơm lên và để rơi một hạt cơm xuống bàn. Thấy vậy, o đặt bát cơm của mình xuống định nhặt bỏ đi, nhưng Bác đã nhanh chóng nhặt hạt cơm lên và nói: “Hạt cơm là hạt ngọc, bao nhiêu công sức của người dân làm ra, rất khó khăn mới nấu được hạt cơm nên quý hơn vàng”.

Trong chuyến đi Nga sau đó, o Huế – Nữ TNXP nhỏ thó đứng trước cả chục ống kính, máy quay của các báo, tạp chí quốc tế. Có một ký giả đặt câu hỏi trực tiếp với o Huế: “Người Việt Nam nhỏ bé, nghèo nàn, vũ khí thô sơ làm sao đánh được Mỹ?” rồi hỏi tiếp: “Người nhỏ thế này làm sao thành Anh hùng?”. Không chần chừ, o trả lời thẳng thắn: “Thưa ông! Không những tôi nhỏ bé mà bất cứ đứa trẻ nào là con của người Việt Nam khi cất tiếng khóc chào đời là đã biết đánh kẻ thù xâm lược. Nhân dân Việt Nam tuy là nghèo, vũ khí thô sơ nhưng với tinh thần bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam chúng tôi không có việc gì không thắng cả.

Còn ông nói nước Mỹ là cường quốc, tiềm lực, vũ khí mạnh gấp vạn lần Việt Nam nhưng chúng tôi không sợ. Tới đây, chính giọng điệu đanh thép của o khiến cả hội trường im bặt. Vị ký giả kia phải thốt lên một câu mà sau phiên dịch viên nói lại o Huế mới biết nghĩa là “ớt nhỏ mà cay”.

- Advertisement -

bài liên quan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

kết nối

66,540Thành viênThích
281Người theo dõiTheo dõi
21,400Người theo dõiĐăng Ký
- Advertisement -

bài mới

- Advertisement -

được quan tâm