Trang chủ Đất và Người Quảng Bình Cổ tự Hoằng Phúc – Vô song phúc địa

Cổ tự Hoằng Phúc – Vô song phúc địa

0
860

Di tích Quốc gia thuộc thôn Thuận Trạch, xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình; có vị trí địa lý: 17012’07” vĩ độ Bắc, 106048’43” kinh độ Đông và tọa lạc trên một vùng đất cao ráo, rộng 10.000m2, ở phía hữu ngạn , cách trung tâm huyện lỵ Lệ Thủy khoảng 4km về phía Nam.

[jw7-video n=”1″]

Chùa Hoằng Phúc là ngôi chùa cổ nhất ở Quảng Bình, được hình thành cách đây trên 715 năm và đã trải qua các tên gọi khác nhau, khởi nguồn là , tiếp đến chùa Kính Thiên và sau là chùa Hoằng Phúc. Chùa còn có tên gọi dân gian thân thiết chùa Quan, chùa Trạm.

Theo dòng chảy của thời gian, chùa Hoằng Phúc mang nhiều dấu ấn gắn liền với những biến cố thăng trầm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và được nhà nước phong kiến hết sức quan tâm trong việc trùng tu, sửa chữa và phục dựng.

Để thấy rõ hơn tầm vóc của di tích này trong tiến trình lịch sử và Phật giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Trên cơ sở kết quả Tọa đàm khoa học ngày 9/10/2015 và Lý lịch Di tích Lịch sử chùa Hoằng Phúc lập tháng 4/2010 do Ban quản lý Di tích, Sở Văn hóa Thể thao và cung cấp, bài viết này giới thiệu về lịch sử hình thành và những dấu mốc của sự trường tồn ngôi chùa cổ Hoằng Phúc trong lịch sử Phật giáo tỉnh Quảng Bình nói riêng và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung.

Phật giáo vào vùng đất Quảng Bình

Phật giáo truyền vào nước ta từ đầu công nguyên và kể từ đó nó đã gắn liền với lịch sử của dân tộc và là một bám rễ sâu đậm trong tâm linh con người Việt Nam, bởi “tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm, cốt tủy của Phật giáo là từ bi, hỷ xả, vô ngã vị tha, cứu khổ, cứu nạn”.[1] Phật giáo đã để lại dấu ấn sâu rộng trong lịch sử tư tưởng và văn hoá Việt Nam.

Với vị trí là vùng biên viễn của các tập đoàn và các quốc gia phong kiến thời cổ trung đại, vùng đất Quảng Bình đã tiếp nhận sự lan tỏa của Phật giáo trong cả một chuỗi dài lịch sử với rất nhiều thăng trầm.

Phật giáo trên địa bàn Quảng Bình có cơ hội phát triển kể từ khi vùng đất này thuộc về quốc gia Đại Việt, đặc biệt là vào thời kỳ Đại Việt lấy Phật giáo làm quốc giáo thời kỳ từ nhà Lý (1010 – 1225) đến nhà Trần (1225 – 1400). Theo tiến trình lịch sử, năm 1069, sau hành trình mở cõi về phương Nam của Lý Thường Kiệt dưới thời Lý Thánh Tông đã thu hồi 3 châu Bố Chinh (sau là Bố Chính), Địa Lý (sau là Lâm Bình), Ma Linh (sau là Minh Linh) chính thức sáp nhập vào nước Đại Việt (Trong đó, châu Bố Chinh và châu Địa Lý là vùng đất Quảng Bình, châu Ma Linh thuộc vùng đất Bắc Quảng Trị ngày nay). Thực hiện chính sách di dân lập ấp vào những vùng đất mới của các triều Lý – Trần, những lớp người Việt từ ngoài Bắc… đến định cư trên vùng đất này đã mang theo cả truyền thống văn hóa, tín ngưỡng của mình đến gieo hạt, ươm mầm trên vùng đất mới, và chỗ dựa tâm linh gần gũi và thân thiết nhất đối với họ chính là Phật giáo. Đó là lý do vì sao trong suốt hành trình Nam tiến, người Việt lập làng đến đâu, đào giếng lấy nước uống, trồng cây đa đầu làng, xây đình làng, chùa làng để thờ Phật đến đấy. Không phải ngẫu nhiên mà ca dao đã có câu: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Chùa Phật được dựng lên trên vùng đất mới vừa là hình ảnh nhắc nhớ về quê hương nguồn cội, vừa là nhân tố có tính tương đồng giúp họ nhanh chóng hòa nhập, kết nối với văn hóa, tín ngưỡng của cư dân bản xứ. Chùa thường được kiến trúc theo kiểu “Chùa đất, Phật vàng”, tức là kiểu kiến trúc chùa bằng gỗ, tranh thấp bé, xung quanh thì đắp phên trét đất trộn rơm… và Phật giáo không chỉ đứng chân lại ở Quảng Bình mà tiếp tục ảnh hưởng và lan tỏa theo hành trình của công cuộc mở cõi về phương Nam.

Đặc biệt vào thời Lý – Trần, thời kỳ vẻ vang, oanh liệt của dân tộc, Phật giáo lúc này trở thành quốc giáo, đưa tinh thần nhập thế được thể hiện rất sinh động và rõ nét qua hành trạng của những nhân vật Phật giáo tiêu biểu như Vạn Hạnh, Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông… đã xây dựng nền Phật giáo Đại Việt hưng thịnh và góp công lớn vào công cuộc xây dựng dân tộc Đại Việt hùng cường, như Lê Mạnh Thát viết: “Phật giáo vào giai đoạn này đã trở thành một nhân tố để thống nhất dân tộc. Khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi thì sự nghiệp thống nhất dân tộc bằng văn hóa lại được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Nó trở thành chính sách cơ bản cho sự đoàn kết toàn dân tộc…”.[2] Điều đáng lưu ý là những nhân vật kể trên không chỉ dùng Phật giáo để nhập thế phò vua, giúp nước, cứu người… mà còn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Dưới thời Trần, Phật giáo được truyền bá sâu rộng và xuất hiện trường phái riêng của Đại Việt với những giáo lý thực tế trên nền tảng căn bản của tôn giáo “từ bi, bác ái và vị tha”. Nhiều nhà vua, vương hầu, khanh tướng đã xuất gia quy y cửa Phật. Đặc biệt, là sự xuất gia của vua Trần Nhân Tông vào năm 1299, Ngài đã thành lập ra Thiền phái Trúc Lâm và trở thành vị tổ thứ nhất của một thiền phái lớn nhất thời Trần. Đây là hệ thống thiền phái đặc trưng đầu tiên của Đại Việt với chủ trương cư trần lạc đạo, vẫn sống trong đời sống bình thường nhưng vui với đạo. Dòng thiền này ra đời làm cơ sở vững chắc cho Phật giáo Đại Việt.

Sau khi thành đạo, Trần Nhân Tông đã đi khắp nước thuyết pháp truyền giảng giáo lý Phật giáo với nội dung và mục đích chính là dùng Trúc Lâm thống nhất ý thức hệ toàn dân đê củng cố khối thống nhất dân tộc đã được thử thách trong diễn trình lịch sử và đặc biệt là trong các cuộc chiến tranh ác liệt chống Nguyên Mông. Ngài đã vân du thuyết giảng Phật pháp tại nhiều trung tâm Phật giáo của nước ta thời bấy giờ, như: chùa Phổ Minh, Sùng Nghiêm, Báo Ân, Vĩnh Nghiêm… và vào đến tận Quảng Bình, mà thời đó là phủ Lâm Bình, thuộc vùng biên địa cực Nam của Đại Việt.

Theo Thánh Đăng Ngữ Lục viết: “Tháng 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), Phật hoàng Trần Nhân Tông đi thẳng lên núi Yên Tử, chuyên cần tu tập “mười hai hạnh đầu đà”, lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà, lập tịnh xá Trượng Đề, khai pháp độ tăng, học chúng đến rất đông. Sau đó chiêu tập danh tăng chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường, mở hội lớn giảng thuyết kinh điển. Vài năm sau, Ngài vân du phương ngoài, đến trại Bố Chính, chọn am Tri Kiến để ở”.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 chép: “Hơn một năm sau khi xuất gia, tháng 3 năm Tân Sửu, niên hiệu Hưng Long thứ 9 (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành và đến tháng 11 năm ấy Ngài trở về”.[3] Sự kiện này hoàn toàn khớp với Tam Tổ thực lục đã ghi: “Sau ở chùa Phổ Minh của phủ Thiên Trường, Thượng hoàng mời đến các danh Tăng, mở lớn các trường giảng, trải mấy năm bèn vân du phương ngoài, đến trại Bố Chính, chọn am Tri Kiến để ở”.[4]

Ngoài sự tồn tại của am tri Kiến trước năm 1301 trên đất Lâm Bình, theo ghi chép của (1555), ở phủ Bố Chính và phủ Tân Bình bấy giờ có các chùa như: chùa Cảnh Phúc ở Cảnh Dương, chùa Quan Âm ở Bồ Khê (xã Thanh Trạch ngày nay) lập năm Hồng Đức thứ 3 (1473), huyện Khang Lộc (nay là huyện Quảng Ninh) có chùa Hóa, huyện Lệ Thuỷ có chùa Kính Thiên và chùa Đại Phúc.[5]

Đến thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đã mở rộng cánh cửa chấn hưng Phật giáo bằng cách cho xây dựng và phục dựng nhiều ngôi chùa trên lãnh thổ của mình, trong đó có chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch. Từ đó, Phật giáo xứ có bước phát triển, góp phần giáo hoá thiện tâm cho dân chúng trong vùng, tạo ra sự ổn định xã hội và cộng đồng dân cư, làng xã…

Các đời vua triều Nguyễn sau này cũng rất quan tâm đến sự trùng tu, phục dựng các chùa trên toàn đất nước nói chung và Quảng Bình nói riêng.

Cổ tự Hoằng Phúc - Vô song phúc địa
Chùa Hoằng Phúc, Lệ Thủy, Quảng Bình- Ảnh chụp qua video của Nguyễn Chiến

Lịch sử hình thành chùa cổ Hoằng Phúc

Về định danh và vị trí địa lý Tri Kiến

Theo sắp đặt các đơn vị hành chính đời Trần, châu Lâm Bình dưới đời nhà Lý được đổi thành phủ Lâm Bình rồi phủ Tân Bình, lộ Tân Bình rồi đến cuối đời Trần đổi thành trấn Tân Bình, rồi trấn Tây Bình. Theo sách Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, trấn Tây Bình có huyện Phúc Khang (có lúc là Thượng Phúc, Khang Lộc…), huyện Nha Nghi và huyện Tri Kiến.

Và “Năm Vĩnh Lạc thứ 13 (1415), tháng 8, chia đất huyện Tri Kiến cho lệ vào hai huyện Nha Nghi và Phúc Khang”.[6] (huyện Nha Nghi tương đương huyện Lệ Thủy và huyện Phúc Khang tương đương huyện Quảng Ninh ngày nay).

Sách Ô châu cận lục đã nhắc đến địa danh Tri Kiến: ”Tri Kiến cổ chi huyện Kiến, Tả Bình kim tức phủ Bình”, tức là: “Tri Kiến xưa nơi đặt huyện, Tả Bình nay tức phủ Bình”.

Theo Giáo sư Lê Mạnh Thát: “Tri Kiến là nơi dựng của huyện xưa và có thể là một tên gọi địa phương của Tri Kiến”[7] và “Danh xưng Tri Kiến xưa là nơi huyện Tri Kiến đặt huyện lỵ, đất cũ huyện Tả Bình nay thuộc phủ Tân Bình”.

Ngoài ra, cũng theo “Ô châu cận lục” ở phần “ tổng luận” về huyện Phong Lộc có viết: “Tri Kiến thì nhiều gái góa chồng…”.

Do Tri Kiến thuộc huyện Phong Lộc nên Tri Kiến cũng là tên thôn (phường, trang,.) và thôn này theo “Mục Đồ bản” của sách Ô châu cận lục ở trang 31 có tên là “An Trạch xã” thuộc huyện Lệ Thủy.

Từ đó, có thể khẳng định: Tri Kiến vừa là tên thôn, vừa là tên của huyện Tri Kiến xưa thuộc phủ Lâm Bình.

Khởi nguồn từ am Tri Kiến

Am thờ Phật ở thôn Tri Kiến, huyện Tri Kiến gọi là am Tri Kiến.

Vào những năm cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV, Am là nơi thờ Phật và được gọi là Chùa. Theo Giáo sư Lê Mạnh Thát trong sách Toàn tập Trần Nhân Tông khẳng định: “Am Tri Kiến là ngôi chùa của lỵ sở Tri Kiến của Bố Chính”.[8] (Địa danh Bố Chính đã được Thánh Đăng Ngữ Lục, Đại Việt sử ký toàn thư và Tam Tổ thực lục nhắc đến là trại Bố Chính, không phải châu hay phủ Bố Chính. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.262 đã chú thích: Miền đất Quảng Bình bấy giờ cũng gọi là trại Bố Chính. Trại là miền đất, vùng đất chưa được khai hóa ngang bằng so với các Lộ).

Am Tri Kiến là một ngôi chùa được lập để thờ Phật, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của cộng động cư dân Đại Việt từ miền Bắc di trú vào vùng đất mới và để cố kết cộng đồng bản địa. Chính nơi đây, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến ở và thuyết pháp truyền giảng giáo lý Phật giáo năm 1301.

Đến nay chưa tìm thấy tư liệu lịch sử nào ghi chép năm xây dựng am Tri Kiến, nhưng theo Thánh Đăng Ngữ Lục, Đại Việt sử ký toàn thư và Tam Tổ thực lục, có thể khẳng định rằng, am Tri Kiến là ngôi cổ tự có mặt sớm nhất trên vùng đất Quảng Bình kể từ khi 3 châu Bố Chinh, Địa Lý, Ma Linh chính thức sáp nhập vào nước Đại Việt và phải có trước khi Phật hoàng Trần Nhân Tông đến cư ngụ và thuyết pháp nhân chuyến vân du hóa đạo 9 tháng tại các địa phương và trên đất Chiêm Thành vào năm 1301.[9]

Như vậy, tính cho đến nay, am Tri Kiến đã có một chiều dài lịch sử trên 715 năm.

Am Tri Kiến là tiền thân của chùa Kính Thiên

Vấn đề cần làm sáng tỏ am Tri Kiến là tiền thân của chùa Kính Thiên, tức là cùng tọa trên một vị trí địa lý xã An Trạch trước đây và phường Thuận Trạch sau này.

Thứ nhất, Am Tri Kiến và chùa Kính Thiên đều có chung tên gọi dân gian là chùa Trạm, bởi ở gần trạm Bình Giang thuộc thôn Tri Kiến (thời Trần), An Trạch xã (thời Lê), phường Thuận Trạch (thời chúa Nguyễn) và thôn Thuận Trạch, xã Mỹ Thủy ngày nay, cụ thể:

Hiện chưa có sử liệu nào ghi rõ am Tri Kiến là chùa Trạm, tọa gần trạm Bình Giang, nhưng có thể lý giải thông qua sự lưu truyền câu ca dao trong dân gian:

“Tạnh trời chuông Trạm ngân xa Ngân vào Hồ Xá, ngân qua Truông Hồ” Chuông Trạm tức là chuông chùa Trạm, chùa gần trạm Bình Giang nên dân gian còn gọi là chùa Trạm (Thậm chí thời kỳ dinh Quảng Bình đóng ở thôn An Trạch, dân gian vẫn thường gọi là dinh Trạm). Câu ca dao còn khẳng định trước năm 1306, ở gần trạm Bình Giang có am, chùa lớn nổi tiếng mới “ngân xa, ngân vào Hồ Xá, ngân qua Truông Hồ” (thuộc Ma Linh) đến hết vùng đất cực Nam của Đại Việt kể từ năm 1069 đến trước năm 1306. (Trạm Bình Giang ở bên hữu bờ sông Bình Giang (nay là sông Kiến Giang) thuộc thôn Tri Kiến, huyện Tri Kiến xưa, sau là huyện Nha Nghi, nay là Lệ Thủy. Trạm Bình Giang là một trong những trạm công lớn của Nhà nước trên đường Thiên lý do nhà nước phong kiến thiết lập để phục vụ việc truyền tin, đón tiếp quan khách trên đường thực hiện công vụ).

Đồng thời trạm Bình Giang được xác định thuộc xã An Trạch, cụ thể: Hồng Đức năm thứ 21, Canh Tuất (1490), Lê Thánh Tông định bản đồ thiên hạ đến xã, thôn, phường, trang, ấp… được biên chép trong “Ô châu cận lục” là: Trạm Bình Giang thuộc xã An Trạch.

Còn chùa Kính Thiên, theo Ô châu cận lục của Tiến sĩ Dương Văn An (năm 1555) cũng ở gần trạm Bình Giang: “Chùa Kính Thiên ở gần trạm Bình Giang huyện Lệ Thủy. Nước biếc uốn quanh, non xanh chầu về. Hẳn nhiên là một ngôi chùa núi u tịch, một cõi thần tiên vậy. Nhà cửa thôn xóm chẳng xa, nhưng tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng gà gáy chó sủa. Thật là một ngôi chùa lớn ở Tân Bình vậy. Chùa có đại hồng chung nặng ngàn quân, có tăng quan và người quét dọn, bốn mùa phụng thờ. Nay hoa rụng chim kêu, chỉ còn trơ nền cũ mà thôi”<10) và dân gian cũng thường gọi là chùa Trạm. Đồng thời, chùa Kính Thiên cũng tọa trên đất Thuận Trạch: “Năm Kỷ Dậu thứ 52 (1609), Thái tổ Gia Dũ Hoàng đế lập chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch (tên phường, thuộc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình)”.[10] [11]

Như vậy, am Tri Kiến, chùa Kính Thiên thực chất là một, có chung tên gọi dân gian thân thiết là chùa Trạm, ở gần trạm Bình Giang thuộc thôn Tri Kiến xưa, sau là xã An Trạch, phường Thuận Trạch và nay là thôn Thuận Trạch, xã Mỹ Thủy.

Thứ hai, Chỉ có một chùa duy nhất gần trạm Bình Giang, trên đất xã An Trạch xưa.

Theo ghi chép của Dương Văn An, ở huyện Lệ Thuỷ lúc bấy giờ có chùa Kính Thiên và chùa Đại Phúc.

Trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ có 2 chùa Kính Thiên và chùa Đại Phúc, nhưng do chùa Đại Phúc ở địa phận hai thôn Đại Phúc và Tuy

Lộc (xã Lộc Thủy) được xây dựng từ thời các chúa Nguyễn[12], nên chỉ có duy nhất chùa Kính Thiên ở gần trạm Bình Giang thuộc xã An Trạch xưa.

Từ các luận cứ nêu trên, có thể khẳng định rằng: am Tri Kiến và chùa Kính Thiên thực chất là một. Am Tri Kiến là tiền thân của chùa Kính Thiên.

Từ am Tri Kiến đến chùa Kính Thiên

Hiện nay, chưa có tư liệu lịch sử để khẳng định chùa Kính Thiên được đổi tên hoặc phục dựng lại trên nền am Tri Kiến từ năm nào, nhưng theo mô tả nêu trên của Tiến sĩ Dương Văn An cho thấy đến thời Lê – Mạc, cổ tự Kính Thiên rơi vào cảnh hoang phế, chỉ còn trơ một khu nền cũ mà thôi “.. .Nay hoa rụng chim kêu, chỉ còn trơ nền cũ mà thôi”. Như vậy chùa Kính Thiên đã được đổi tên hoặc phục dựng lại trên nền am Tri Kiến trước thời Mạc Phúc Nguyên (1546-1561).

Mãi đến năm 1609, chúa Tiên Nguyễn Hoàng mới dựng lập lại chùa Kính Thiên trên nền cũ có cùng tên gọi: “Chùa Hoằng Phúc ở phường Thuận Trạch, huyện Lệ Thủy do Thái tổ Hoàng đế bản triều dựng lại trên nền đất cũ từ năm thứ 52, gọi là chùa Kính Thiên”. [15]

Từ năm 1627, do chiến tranh loạn lạc dưới thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, cũng giống như các chùa khác, chùa Kính Thiên rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát và quên lãng. Trong sử sách không thấy ghi chép gì về chùa Kính Thiên trong giai đoạn này.

Đến năm 1716, mặc dầu vẫn đang trong thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, nhưng chúa Nguyễn Phúc Chu vẫn rất quan tâm cho trùng tu lại chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch và thân hành đến chùa ban hoành phi đề “Kính Thiên Tự”, một hoành phi “Vô Song Phúc Địa” (Đất Phúc có một không hai) cùng năm cặp liễn đối ngự chế” với hàm ý súc tích ca ngợi, sự huyền diệu của giáo lý Phật giáo, lòng bác ái, từ bi và những thiền tích của Cổ Phật trong giác ngộ thiện tâm con người cũng như sự soi chiếu tương quan chứng ngộ pháp vô vi nhiệm màu giữa Đời và Đạo…

Sau khi lấy lại thành Phú Xuân (1801), năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long, bên cạnh việc củng cố công quyền thì việc củng cố thần quyền cũng rất được chú ý. Ông đã cho tái thiết lại các ngôi chùa, tuy nhiên việc tái thiết ở quy mô nhỏ, đơn giản.

Từ Kính Thiên đến Hoằng Phúc

Về sự xuất hiện danh xưng chùa Kính Thiên, chùa Hoằng Phúc được các sách Ô châu cận lục, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên, đã nói rõ, chùa Hoằng Phúc được phục dựng và đổi tên từ chùa Kính Thiên.

Dưới thời vua Minh Mạng, nhà vua ý thức rằng: Danh sơn thắng tích không nên để vùi lấp mất đi, huống chi đây là nơi đức Hoằng tổ ta vì dân cầu phúc, nên đã cho tu sửa lại một số chùa, trong đó có chùa Kính Thiên/Hoằng Phúc.

Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), trong chuyến ngự giá Bắc tuần, vua có ghé thăm chùa Kính Thiên và cho đổi tên chùa là “Hoằng Phúc Tự” (Ngôi chùa mở rộng ơn phước hay phúc lớn).[16]

Tháng 6 năm Quý Mùi, niên hiệu Minh Mạng năm thứ 4 (1823), nhà vua ban cấp cho 100 lạng bạc để trùng tu chùa Kính Thiên ở phường Thuận Trạch.17

Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), vua lại ban cho 150 lạng bạc để sửa chữa.18

Ngày 27 tháng 6 năm Kỷ Hợi (1839), niên hiệu Minh Mạng thứ 20, nhân dân đã quyên góp chú đúc lại Đại hồng chung năm xưa đã bị thất lạc và đề tên “Hoằng Phúc linh chung”.

Năm Minh Mạng thứ 21 (1840), nhân lễ mừng thọ của nhà vua, chùa đã tâu xin làm lễ khai kinh chúc thọ, được ban cho 200 quan tiền.19

Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), vua thánh giá tuần hạnh phương Bắc, ban cho chùa 300 quan tiền để tôn tạo chùa; đích thân vua và hoàng đệ Tùng Thiện Quận công Nguyễn Phúc Miên Thẩm ngự chế ban hai bài thơ, cho khắc vào bảng đồng treo ở chùa để ghi nhớ thắng tích, ca ngợi huyền diệu trong thanh tĩnh hư vô của nhà Phật và mong nhà Phật mở rộng từ bi, giáo hóa, ban quả phước cho chúng sinh.

Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), nhân lễ mừng thọ 40 tuổi của vua, chùa được thưởng 300 quan tiền. 20

Năm 1879, chùa lại cử hành lễ khai kinh chúc thọ vua Tự Đức, được ban cấp 200(22) quan tiền.

Đến cuối thế kỷ XIX, trải qua chiến tranh, nhất là biến cố kinh đô thất thủ, dấy nghĩa Cần Vương, chùa bị hư hỏng dần.

Đầu thế kỷ XX, khoảng năm 1918, chùa có thiện duyên được một vị Thượng thư bộ Lễ phát tâm trùng tu. [23]

Năm 1943, chùa Hoằng Phúc lại tiếp tục được tu sửa với sự phát tâm của một thí chủ là Lãnh binh Nguyễn Đại Bổn.[24]

Năm 1977, trên nền chùa Hoằng Phúc cũ đã dựng lên một ngôi nhà nhỏ để làm nơi thờ các đức Phật, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo Phật tử và nhân dân trong vùng. Tuy nhiên, ngôi nhà đã bị đổ nát sau một cơn bão vào năm 1985.

Chùa Hoằng Phúc theo dân gian còn được gọi là chùa Quan. Khởi nguồn từ am Tri Kiến đến chùa Kính Thiên và chùa Hoằng Phúc luôn được các vương triều phong kiến lúc đang thịnh trị, từ thời Trần đến các chúa Nguyễn, vua Nguyễn đã quan tâm bảo hộ. Theo Ô châu cận lục, Kính Thiên đã là một ngôi quan tự – chùa quan (chùa công của Nhà nước) do vương triều bảo hộ, có tăng quan coi giữ chùa gọi là “Tự chính”… nên dân gian cũng thường gọi là chùa Quan.

Kết quả khảo cứu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cho thấy, chùa Hoằng Phúc đã lưu giữ được nhiều hiện vật quý hiếm, đa dạng về chủng loại với trình độ kỹ thuật chế tác khác nhau, mang nhiều phong cách nghệ thuật, đặc trưng văn hóa của nhiều triều đại trong lịch sử. Đồng thời cũng khẳng định rằng, so với miền

Thuận Quảng, vùng đất Quảng Bình đã được sáp nhập vào quốc gia Đại Việt sớm hơn 237 năm (từ năm 1069 đến 1306), theo đó các ngôi cổ tự của người Việt hiện diện trên mảnh đất này dĩ nhiên cũng có trước ở miền Thuận Quảng hàng trăm năm. Điều đó đã góp phần lý giải vì sao tại vùng đất này có sự hiện diện, chồng xếp lên nhau của các hệ tượng, pháp khí Phật giáo đa nguồn gốc, đa phong cách, đa chất liệu.

Trong dòng chảy lịch sử của mình, chùa Hoằng Phúc đã khẳng định vị trí trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Quảng Bình nói chung và người dân Lệ Thủy nói riêng. Điều đó được minh chứng qua các sử kiện và bởi sự kế tục không gián đoạn từ khi Phật hoàng Trần Nhân Tông mang tư tưởng Phật giáo về giáo hóa vào đây trong thời gian lưu lại tu tập và cho dù trải qua chiến tranh, loạn lạc, chùa vẫn tồn tại và phát triển; là sử kiện ghi lại nhiều đợt ghé thăm, trùng tu và phục dựng lớn của chúa Tiên Nguyễn Hoàng, các chúa Nguyễn, vua Nguyễn. Đặc biệt là việc xây dựng lại chùa Kính Thiên diễn ra năm 1609 dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng; trùng tu, tôn tạo năm 1716 dưới thời Nguyễn Phúc Chu; năm 1821, 1823, 1826, 1840 dưới thời Minh Mạng; năm 1842, 1846 dưới thời Thiệu Trị và năm 1879 dưới thời Tự Đức… Sau những tàn phá nghiêm trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, năm 1977, nhân dân địa phương đã dựng một ngôi nhà nhỏ để tiếp tục hương hỏa, nối tiếp đức tin và lòng mộ đạo.

Có thể nói, chùa Hoằng Phúc (chùa Kính Thiên, am Tri Kiến) là di sản của một trung tâm văn hóa tâm linh Phật giáo của Đại Việt được cộng đồng dân cư mang theo trong quá trình di dân mở cõi phương Nam thời Lý – Trần, góp phần giữ gìn bản sắc Đại Việt khi đến vùng đất mới, để an cư lạc nghiệp. Đây là di tích được các nhân vật lịch sử của quốc gia phong kiến (Phật hoàng Trần Nhân Tông, chúa Tiên Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn Phúc Chu, vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị, Tùng Thiện Quận công Nguyễn Phúc Miên Thẩm, vua Tự Đức…) đã đến, quan tâm trùng tu, phục dựng và chấn hưng vì mục đích phục vụ cho sự hòa đồng dân tộc trong quá trình mở cõi, cố kết cộng đồng trong sinh hoạt văn hóa tâm linh để tạo sức mạnh từ cố kết lòng dân thông qua đức tin đầy lòng vị tha của đạo Phật. Là di tích vào loại cổ xưa nhất chứa đựng nhiều thông điệp về lịch sử Phật giáo Đại Việt thâm nhập vào xứ Đàng Trong theo cộng đồng dân di cư, theo các nhà tu hành và theo dấu chân kinh lý trên đường thiên lý của các bậc vua chúa, quan lại mộ đạo Phật. Vì thế, nơi đây có sức hút của hội nhập, lại vừa có sức lan tỏa của một trung tâm Phật giáo Đại Việt xứ Đàng Trong.

Với chiều dài lịch sử trên 715 năm, chùa Hoằng Phúc xứng đáng là chùa cổ danh tiếng của tỉnh Quảng Bình, của xứ Đàng Trong và cả Việt Nam.

Chính vậy, ngày 01 tháng 6 năm 2010, Quảng Bình đã ban hành Quyết định số 1210/QĐ-UBND xếp hạng chùa Hoằng Phúc là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Ngày 30/11/2014, công trình phục dựng, tôn tạo khu di tích lịch sử chùa Hoằng Phúc đã được khởi công, do UBND huyện Lệ Thủy làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư 43,372 tỷ đồng do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam(BIDV) bảo trợ.

Đặc biệt, ngày 9 tháng 12 năm 2015, Bộ Văn hóa Thể thao và Du dịch đã ban hành Quyết định số 4248/QĐ-BVHTTDL xếp hạng chùa Hoằng Phúc là Di tích cấp quốc gia.


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

[2] Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.

3 Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004.

4 Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.

5 Dương Văn An, Ô châu cận lục (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc dịch chú – hiệu đính), Nxb Thuận Hóa, Huế 2001.

[6] Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005.

[7] Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.

[8] Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.

[9] Dẫn từ “Thánh Đăng Ngữ Lục”. Xem Thích Không Nhiên – Bình Nguyên, “Từ tiếng chuông chùa Trạm đến đại hồng chung chùa Hoằng Phúc”, Liễu quán số 5 – Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu quán Huế ấn hành 2015.

[10] Dương Văn An, Ô châu cận lục, do Trần Đại Vinh – Hoàng Văn Phúc hiệu đính – dịch chú, Nxb Thuận Hoá.

[11] Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 1, mục Thái tổ Gia Dũ Hoàng đế Nguyễn Hoàng).

[12] “Đại Nam nhất thống chí’ dẫn trong “Quảng Bình qua các thời kỳ lịch sử”, Thư viện Quảng Bình xuất bản, 1998, tr.258.

[13] Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Tỉnh Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997.

[14] Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 8, mục Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chu).

[15] Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Tỉnh Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997.

[16] Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Tỉnh Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997.

[17] Đại Nam thực lục chính biên (Đệ nhị kỷ, quyển 21, Thực lục về Thánh tổ Nhân Hoàng đế Minh Mạng) .

[18] Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Tỉnh Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997.

[19] Dẫn Trần Đại Vinh, “Chùa Kính Thiên – Hoằng Phúc trong lịch sử”, Liễu quán số 5 – Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu quán Huế ấn hành 2015.

[20] Dẫn Phạm Đức Thành Dũng, “Tìm hiểu thêm về chùa Hoằng Phúc qua một số tư liệu chữ Hán”, Liễu quán số 5 – Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu quán Huế ấn hành 2015.

[21] Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Tỉnh Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997.

[22] Dẫn Trần Đại Vinh, “Chùa Kính Thiên – Hoằng Phúc trong lịch sử”, Liễu quán số 5 – Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu quán Huế ấn hành 2015.

[23] Dẫn Trần Đại Vinh, “Chùa Kính Thiên – Hoằng Phúc trong lịch sử”, Liễu quán số 5 – Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu quán Huế ấn hành 2015.

[24] Dẫn Trần Đại Vinh, “Chùa Kính Thiên – Hoằng Phúc trong lịch sử”, Liễu quán số 5 – Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu quán Huế ấn hành 2015.

Loading...

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here