14.8 C
New York
Thứ Năm, Tháng Mười 28, 2021

Lũy Thầy

- Advertisement -

Nghe theo kế của Đào Duy Từ, chúa Nguyễn đã cho xây dựng một chiến lũy bề thế. Một trượng ngày xưa dài khoảng 4 mét. Mới đầu, lũy Trường Dục được đắp dài 2.500 trượng, tức là khoảng 10 cây số, khởi đầu từ chân núi Thần Đinh (chùa Non) chạy dọc theo hữu ngạn sông Rào Đá (Long Đại) đến ngã ba sông Nhật Lệ, men theo bờ Nam qua các làng Xuân Dục, Cổ Hiền, Trường Dục, Quảng Xá đến vùng động cát của phá Hạc Hải. Luỹ được đắp bằng đất sét cao 3 mét, chân luỹ rộng 6 mét. Lũy Trường Dục xây theo kiểu chữ hồi 囘, cho nên còn được gọi là Lũy Hồi Văn, ngoài có khung thành bao bọc, trong là doanh trại, công sự chiến đấu, kho lương bố trí theo lối chữ 已liên hoàn chặt chẽ với lũy ngoài.

Lũy Thầy

Bản đồ vị trí của hai lũy Động Hải và Trường Dục do Léopold-Michel Cadière nghiên cứu và vẽ năm 1906.

Năm 1631, vẫn chưa yên lòng, chúa Nguyễn lại sai Đào Duy Từ cùng tướng Nguyễn Hữu Dật ra Quảng Bình thị sát thế núi, thế sông vùng Động Hải để xây thêm thành lũy. Sau chuyến đi, các tướng Nguyễn lại vạch kế hoạch đắp thêm một lũy mới gọi là lũy Đầu Mâu, cách lũy Trường Dục gần 20 cây số về phía bắc. Lũy được đắp cao 1 trượng 5 thước, tức là cao khoảng 6 mét, phía ngoài đóng cọc gỗ lim, phía trong đóng cọc tre, đổ đất lên 5 tầng cấp, voi ngựa có thể đi được. Cứ cách 3 đến 5 trượng (12 đến 20 mét) lại xây một pháo đài đặt súng thần công, cách một trượng (4 mét) lại đặt một súng phóng đá. Chiều dài của lũy là 3.000 trượng, tức là dài khoảng 12 cây số, bắt đầu từ động Ông Hồi dưới chân núi Đầu Mâu chạy dọc theo nam sông Lệ Kỳ ra đến cầu Dài ở phía nam Đồng Hới.

Cùng năm đó, chúa Nguyễn cho xây tiếp một lũy mới, tiếp nối với lũy Đầu Mâu, chạy từ cầu Dài, vòng sang phía Tây thành Đồng Hới, bọc lấy làng Đồng Phú, qua Hải Thành ra đến cửa sông Nhật Lệ. Phía ngoài lũy còn được đào hào vây quanh. Lũy Đầu Mâu hợp với lũy Nhật Lệ được gọi là lũy Động Hải (Đồng Hới) hay Trấn Ninh, đó là lấy tên làng (Đồng Phú) ở phía đông lũy mà gọi. Cả hai lũy Trường Dục và Động Hải tạo thành một hệ thống phòng thủ kiên cố rất hiệu quả. Kiến trúc hai lũy này đều lợi dụng địa thế thiên nhiên là các bãi lầy và hệ thống kinh rạch khiến cho việc tấn công vô cùng khó khăn.

Trên chiều dài khoảng 17 cây số của lũy từ Đầu Mâu đến cửa Nhật Lệ vậy là chỉ còn lại 3 cửa: Cửa Tấn Nhật Lệ, Cửa Lý Chính Đại Quan Môn, sau vua Minh Mạng đổi là Võ Thắng Quan, còn dân gian gọi là cổng Thượng (xã Vĩnh Ninh, huyện Quảng Ninh) và cửa vào Dinh Quảng Bình còn gọi là Quảng Bình Quan. Theo đường bộ từ Bắc vào Nam, người xưa có thể đi bằng hai đường là Thiên Lý và Thượng Đạo: đường thứ nhất phải qua cửa Quảng Bình Quan để vào Dinh Quảng Bình, rồi đi qua khúc sông cầu Dài, còn gọi là đường hạ; đường thứ hai theo sông Lệ Kỳ qua cổng Lý Chính Đại Quan Môn để đến động Ông Hồi, Trường Dục, gọi là đường thượng. Chiếu theo đó thì rõ ràng là Quảng Bình Quan có mặt tiền ở hướng tây, còn Quốc lộ 1A ngày nay chính là đi phía trong lũy.

Lũy Thầy

Quảng Bình Quan và Quốc lộ 1A. Ảnh: Lê Quang

- Advertisement -

Cách cửa Tấn Nhật Lệ khoảng vài trăm mét sâu vào trong lòng sông, ngày nay có cây cầu nối đôi bờ cũng mang tên Nhật Lệ, được xây vào năm 2004. Dài hơn sáu trăm mét, nó đã trở thành nơi hóng mát của người dân Đồng Hới vào mỗi buổi đêm hè. Người già lên đó đi bộ, thanh niên lên đó chơi đùa. Trong số những con người yêu đời ấy, từng ai nghĩ rằng cửa biển Nhật Lệ này và dòng sông đang trôi hiền hòa kia đã chứng kiến biết bao biến cố vật chuyển sao dời, biết bao thăng trầm của lịch sử. Có chăng người ta chỉ gợi lên những cảm xúc về lịch sử với những cái tên quen thuộc  sông Gianh, cửa Nhật Lệ, Lũy Thầy qua những câu thơ bài hát mà thôi.

“Ai đã qua Đèo Ngang, đã sang Ba Rền, mến dòng sông Gianh biết danh Lũy Thầy”.

Lũy Thầy

Cửa biển Nhật Lệ, phía đông là Bảo Ninh nơi đắp lũy Trường Sa, phía tây là Đồng Hới, lũy Trấn Ninh chạy đến chỗ cột đèn hải đăng. Ảnh: Lê Quang

Năm 1633, Trịnh Tráng khởi binh nam tiến lần thứ hai, lại đóng ở cửa Nhật Lệ. Lúc quân Trịnh Tráng đang chờ nội ứng thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Trịnh Tráng rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính, phía bắc sông Gianh. Thấy chưa thực sự yên lòng vì mặt Đông vùng đất này vẫn trống, quân Trịnh có thể theo đó đột nhập, năm 1634, chúa Nguyễn lại sai tướng Nguyễn Hữu Dật tổ chức đắp lũy Trường Sa. Lũy Trường Sa dài 7 cây số chạy từ Sa Động đến Huân Cát thuộc địa phận Bảo Ninh ở hữu ngạn sông Nhật Lệ ngày nay.

Đào Duy Từ mất đúng năm 1634. Một năm sau, vị chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng qua đời. Thế là suốt trong 3 năm, chúa Nguyễn đã theo mưu kế của Đào Duy Từ, không tiếc sức người, sức của, xây đắp nên chiến lũy bề thế với tổng chiều dài tới 34 cây số. Họ đã để lại cho nhà Nguyễn một hệ thống thành lũy liên hoàn, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều tuyến chiến đấu, dựa chặt chẽ vào địa thế thiên nhiên, đứng vững chãi qua 7 cuộc chiến đấu khốc liệt Trịnh-Nguyễn.

Năm 1648 quân Trịnh tấn công quân Nguyễn tại lũy Trường Dục nhưng mãi không hạ được. Quân Trịnh quay sang đánh vào vùng Võ Xá, khi chiếm được chỗ đứng chân thì lại bị quân Nguyễn chặn đánh ở Thập Dinh (nay vẫn còn địa danh Dinh Mười ở xã Duy Ninh, huyện Quảng Ninh) và đẩy xuống vùng đầm lầy Võ Xá, vốn là một dải đầm lầy tự nhiên, rồi bị sa lầy tại đây. Trong thế trận tiến thoái lưỡng nan do không có được sự hỗ trợ từ đường thủy, quân Trịnh buộc phải rút quân ra Bắc. Sau này dân gian truyền tục câu ca rằng:

“Nhất sợ Lũy Thầy, nhì sợ đầm lầy Võ Xá”.

- Advertisement -

Lũy Thầy

Lược đồ vị trí (không hoàn toàn chính xác) của Lũy Trường Dục, Lũy Đầu Mâu, Lũy Trấn Ninh và Lũy Trường Sa trên bản đồ hiện đại của Google Map. Ngôi sao 5 cánh màu đỏ là vị trí Dinh Mười, ngôi sao 8 cánh màu tím là vị trí đầm lầy Võ Xá.

Đỉnh cao là năm 1672, quân Trịnh với lực lượng hùng hậu đã tiến đánh vào luỹ Nhật Lệ. Đây là lần giao tranh ác liệt nhất trong lịch sử cuộc nội chiến với nhiều lần liên tục tấn công vào mặt luỹ Trấn Ninh. Sau bao lần công thành nhưng vẫn không hạ được, cuối cùng quân Trịnh phải bất lực rút lui, tạm dứt cuộc nội chiến kéo dài gần 50 năm và mở ra hơn một trăm năm hòa hoãn.

Chỉ đến hơn một trăm năm sau, vào năm 1774, dựa lúc tình hình Đàng Trong rối ren, quân Trịnh mới chiếm được lũy Trấn Ninh. Khi đó, tuy đã xây hơn trăm năm rồi, các lũy Trấn Ninh, Trường Dục vẫn vững chắc như xưa. Song lũy cao đất hiểm không còn giúp được nhà Nguyễn, bởi lòng người ly tán. Nhờ các tướng Nguyễn làm nội ứng mở cửa đầu hàng, quân Trịnh chiếm được Quảng Bình.

Đến đây, Lũy Thầy xem như đã chấm hết sứ mạng biểu tượng của mình trong cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh. Hơn mười năm sau, quân Tây Sơn của vị anh hùng Nguyễn Huệ đã đập tan cả hai tập đoàn này để thống nhất đất nước, xóa nhòa giới tuyến. Nhưng sự hiểm yếu và lịch sử bi tráng của Lũy Thầy chưa dừng lại ở đó, nó chỉ thực sự dừng lại cùng với cái kết thúc nghiệt ngã của nghĩa quân Tây Sơn. Vào đầu năm 1802, ở đây diễn ra trận kịch chiến cuối cùng giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh. Lũy Thầy sau bao năm là mồ chôn của biết bao quân Trịnh, giờ lại là mồ chôn của quân Tây Sơn. Tây Sơn với vị nữ tướng Bùi Thị Xuân anh dũng đã bất lực trong việc công thành. Một lần chót nữa, Lũy Thầy lại phù trợ cho quân nhà Nguyễn, trận Trấn Ninh là trận mang tính quyết định, đánh dấu hồi mạt vận của Tây Sơn.

Ngày 15 tháng 6 năm đó, Nguyễn Ánh chính thức vào thành Phú Xuân lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long, nghĩa là Gia Định và Thăng Long . Thành Đồng Hới được khởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 10 (1812), lúc đầu bằng đất, xây ngay trên mảnh đất xưa kia của luỹ Trấn Ninh, nghĩa là đã sau gần 2 thế kỷ. Tám năm sau khi Gia Long mất, Minh Mạng nối ngôi, ông đã nhờ một sĩ quan người Pháp thiết kế lại thành Đồng Hới và xây lại bằng gạch (1824) theo kiểu vô băng, thành luỹ quân sự hình múi khế. Đó chính là những bức tường gạch phủ rêu còn lại ngày nay. Năm 1848, vua Thiệu Trị hành hương qua hệ thống thành lũy này, thấy cảnh hùng vĩ đã xúc động đặt thêm cho nó cái tên “Định Bắc trường thành” để nhớ ơn tổ tiên đã giữ vững cõi Nam.

Trải qua bao thời gian với biết bao biến động lịch sử, Lũy Thầy vốn chỉ được đắp đất bị bỏ hoang và đã biến mất dần. Chiến tranh chống Pháp rồi chiến tranh phá hoại của Mỹ trong thế kỷ 20 đã san bằng Đồng Hới thành bình địa. Chỉ còn những đoạn tường gạch nung ở thành Đồng Hới và vị trí của một Quảng Bình Quan hoàn toàn đổ nát. Ngày nay, những gì còn sót lại của Lũy Thầy là một Quảng Bình Quan được trùng tu năm 1994 cùng đây đó những gò đất sạt lở.

Lũy Thầy

Ngọn hải đăng nằm trên Lũy Thầy xưa, ngay sát cửa biển. Ảnh: Lê Quang

Có lẽ những gì là vật chất hiện hữu thế nào rồi cũng bị thời gian, bị con người và mưa gió dãi dầu bào mòn đi hết, chỉ còn những di sản tinh thần là còn lưu giữ dai dẳng trong dân gian. Ngày nay, đây đó người ta vẫn nhắc đôi câu ca dao:

“Luỹ Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu”
hay
“Khôn ngoan qua được Thanh Hà
Dẫu rằng có cánh khó qua Lũy Thầy”

Tôi kết thúc bài này bằng mấy câu thơ về bức thành cổ trong Hà Nội phố của Phan Vũ, cách Lũy Thầy hơn 500 cây số:

Em ơi! Hà Nội phố!
Ta còn em mảnh đại bác
Ghim trên thành cũ.
Một thời thịnh,
Một thời suy,
Hưng vong lẽ thường.
Người qua đó,
Hững hờ bài học sử.

- Advertisement -

bài liên quan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

kết nối

66,959Thành viênThích
284Người theo dõiTheo dõi
21,500Người theo dõiĐăng Ký
- Advertisement -

bài mới

- Advertisement -

được quan tâm