Ba lần gặp Tổng tư lệnh

0
37

Trân trọng giới thiệu bài  tham luận của Hoạ sĩ Lê Trí Dũng “Ba lần gặp Tổng Tư lệnh” do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 21/12/2018 nhân kỷ niệm  74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1994 – 22/12/2018) và 5 năm ngày mất của .

Ba lần gặp Tổng tư lệnh, nguyên Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Vị chỉ huy lớn đánh thắng hai đội quân xâm lược là Pháp và Mỹ. Với những người làm công tác vãn hoá, ông là Anh Văn thân thiết. Còn với những người lính chúng tôi, dù đang còn mặc áo lính hay đã giải ngũ, ông là vị chỉ huy suốt đời, là “ông Tướng huyền thoại” của chúng tôi. Riêng với tôi, còn có kỷ niệm không bao giờ quên được với ba lần gặp ông.

Lần thứ nhất: Đó là những ngày giáp Tết Nhâm Tý đầu 1972, Sư đoàn Bộ binh 338 quân tăng cường Bộ Tư lệnh Thủ đô đang cấp tập “rèn” quân ở Thạch Thành (Thanh Hoá).Ngày nào cũng đeo 10 kg đá dựng trong sọt tre tự đan chạy 5 km, sau đó là lăn lê. xạ kích, võ thuật và đào giao thông hào. Đại đội đóng quân trong một bản người Mán, vùng bán sơn địa. Sung sức, tôi được giao khẩu B41 nặng và là hoả lực chính của đại đội. Mùa đông năm ấy rất lạnh. Đêm nằm, chúng tôi mặc tất quần áo, quấn cả màn và áo mưa mà ngủ, chờ lệnh xuất quân vào B dài. Thế rồi, một đêm khoảng 12 giờ, đột nhiên còi báo động rúc lên! Lệnh xuất quân! Toàn bộ quân trang quân dụng phái mang đi hết. Lính tráng làu bàu: Đêm hôm giá buốt, lại còn vài ngày nữa là Tết… Nhưng kỷ luật chiến trường, quân lệnh như sơn. Tôi nai nịt chặt chẽ xong, hất khấu B41 lên vai là đi luôn. Trời đêm đen như mực, hết đèo lại suối, người sau cứ người trước mà đi. Hầu hết lính năm ấy là các trường đại học, có cả những thầy giáo và khá đông nghiên cứu sinh ở nước ngoài mới về… Đến lúc ấy, các “công tử” mới thấy giá trị của những buổi đeo sọt rèn quân. Nhưng dù sao chăng nữa, lính Hà Nội cũng khó dứt khỏi những mối tình mà các bạn gái theo lên từ Thú đô. Và thế là cái kho chứa rơm củahợp tác xã bị biến thành “chiêu đãi sở” cúa lính và nước mắt chia ly nhiều bao nhiêu thì càng làm tăng sự đột ngột của lệnh hành quân đêm ấy. Nhưng đến tảng sáng thì chúng tôi ngã ngửa người ra khi nhìn thấy lờ mờ dãy núi đá vôi: Ninh Bình! Tức là chúng tôi đã lộn ngược ra Bắc và đã đi được hơn 40km. Và một tin còn bất ngờ hơn: Chuẩn bị được Đại tướng Võ Nguyên Giáp uý lạo và chúc Tết trước khi vào chiến trường…

Hôm ấy, Sư đoàn Bộ đã dựng một khán đài cao, Đại tướng đứng trên đó nói chuyện, toàn sư hàng ngũ chỉnh tề trải dài xuống ven đồi. Nhiều đơn vị ở quá xa chỉ cử đại diện. Đại tướng lên nói chừng 15 phút, chúc Tết và động viên binh sỹ, tiếng “u ra” vang rền. , đơn vị chỗ nào lại về chỗ nấy. Chúng tôi còn nán lại để “xem mặt” ông. Ra đến ngoài cánh rừng bạch đàn, thấy rất nhiều binh sỹ đứng dọc hai bên đường, từ trên xe, ông nhảy xuống đi bộ giữa hai hàng quân, tay vẫy vẫy… Đột nhiên, ông dừng lại trước một người lính trẻ, rất trẻ, chỉ khoảng 16, 17 tuổi và rất nhỏ bé, lùng thùng trong bộ quân phục số 2. Đối diện với người binh nhì, ông ôn tồn hỏi: “Đồng chí đi bộ đội bao lâu rồi?”. “Báo cáo Đại tướng -gần một tháng ạ”. “Đã học chào chưa?” Người lính trẻ lúng lúng, vì cảm động hơn là vì câu hỏi. Và bất ngờ, Đại tướng dập gót, đứng nghiêm, giơ tay chào. Người lính cũng đứng thẳng người, chào đáp lại, hai mắt anh rực sáng. Suốt đời tôi khỏng bao giờ quên ánh mắt của người binh nhì hôm ấy. Trong ánh mắt ấy, nửa như có sự hàm ơn, nửa như mang một lời hứa. Trong giây lát, không gian như nén lại, rồi vỡ tung ra trong tiếng “u ra” vang dội. Lần đầu tiên, tôi chứng kiến một cảnh tượng cảm động và lạ lùng: một Đại tướng đứng nghiêm chào một binh nhì trước giờ xuất trận.

Trong tình thế ầm ầm vào trận, mạng sống quả rất mong manh. Nhưng với đạo quân “Phụ tử chi binh” ấy, người ta cũng có thể chết vì một tấm lòng, một nghĩa cử lắm chứ! Sự thực trong đoàn quân năm ấy rất nhiều người không trở về, họ vĩnh viễn nằm lại Thành cổ Quảng Trị, đáy dòng Thạch Hãn, một cánh rừng nào đó ở B2, B3, chiến trường C… Nhtmg tôi biết sức mạnh của những ngườilính chúng tôi được tăng lên rất nhiều kể từ buổi gặp chú tướng của minh ngày ấy.

Lần thứ hai: Vào cuối 1994. Cuộc triển lãm hội hoạ mang tên “Cái nhìn từ hai phía” hội tụ 40 hoạ sĩ cựu chiến binh hai nước Việt Nam và Mỹ sau khi chu du vòng quanh nước Mỹ, gặt hái nhiều tiếng vang thì lễ bếmạc được tổ chức ở Bảo tàng Mỹ thuật – Hà Nội.

Vài hôm sau buổi lễ, tôi được Ban tổ chức mời đến để cùng tiếp một khách mời đặc biệt: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hơn nửa giờ đồng hồ, ông xem kỹ từng bức một, thỉnh thoảng trao đổi đôi lời với bọn tôi. Ông dừng lâu trước bức “Chân dung ” gắn bằng những con tem thư của họa sĩ cựu chiến binh Mỹ Đa Vít Tô Mát và bức “Cánh rừng Đi ô xin” của tôi. Tôi biết, ngày nay ở Hà Nội, mỗi tuần một triển lâm, việc ông đến thăm triển lãm hội hoạ của những người lính cũ hai bên của cuộc chiến mà “hơi bom còn nóng hổi” không phải là điều đơn giản, ông thích hội hoạ, am hiểu văn, sử, khoa học, và còn là một tay chơi piano cừ khôi. Thế giới cũng ít có người văn võ song toàn như thế.

Lần thứ ba. Thời gian cứ như ngựa chạy qua cửa sổ. Nhiều lúc phóng xe trên đường tôi cứ nghĩ: “Ông tướng đã 93 tuổi rồi, đại thượng thọ rồi, không biết có còn tập Thiền nữa không?…”. Thế rồi, một dịp bất ngờ, tôi được vẽ và chụp ảnh Đại tướng, một chiều tháng 9, tôi đến tư dinh ông. Vườn rất rộng, um tùm và thiếu bàn tay chăm sóc. Tôi chờ trong phòng khách, phòng rộng, để nhiều quà tặng của các quân khu gửi lên, phần lớn đậm chất lính và tình người. Rồi ông xuất hiện trong bộ lễ phục đại tướng. Cử động chậm đi nhiều tuy rất minh mẫn. Sau phút chào hỏi, ông bảo: “Làm việc ngay, vì lát nữa là đến giờ tập Thái cực quyền rồi”. Tôi bắt đầu vẽ, căn phòng lặng tờ, chỉ nghe tiếng sột soạt trên giấy. Đột nhiên, ông bảo: “Rất nhiều người nói tôi có hai đặc điểm: Cái mắt và cái trán, anh lưu ý nhé”. Tôi biết ông đang mệt, dạo này rất độc, mưa luôn. Vừa vẽ, tôi vừa quan sát ông, đằng sau vầng trán kia ông đang nghĩ gì? Hơn 30 năm trước hàng đêm ông thức trắng nghe tin chiến sự miền Nam từ điện thoại trực tuyến, nước mắt tướng quân có rơi không khi nghe tin đồng chí đồng bào của mình hy sinh dưới súng địch?Và ông phải chống chọi thế nào với sóng gió cuộc đời sau cuộc chiến? Bất thần, ông lại hỏi: “Nhà đồng chí ở đâu?”. Tôi vừa trả lời ông vừa lựa thế đưa câu chuyện chuyển sang hướng “tâm tình”. Nhưng không, chỉ thế thôi! Ác liệt của chiến tranh và cuộc sống quân ngũ, sự cọ xát thường tình với hiểm nguy và yêu cầu quân sự đã tôi luyện vị Tổng chỉ huy thành bản lĩnh “Buồn giận không lộ ra nét mặt”. Rồi 30 phút qua đi. Bức hoạ bằng bút sắt đã xong, nhìn vẻ chưa hài lòng của tôi, ông đột nhiên hỏi tuỳ tùng: “Mai thứ mấy?”_ “Thưa, thứ 7 ạ!”_ “Vậy mai anh lại đến nhé.” Lại bất ngờ, tôi hồi hộp: “Dạ, mấy giờ ạ?” Vài tích tắc trôi mau “Ba giờ”. Đến bây giờ và mãi mãi về sau, tôi không thế quên được âm thanh, ngữ điệu và hồn khí cùa hai từ ấy. “Ba giờ”. Đại tướng nói nhanh, mạnh và sắc với thổ ngữ của người Lệ Thuỷ – , không, không hẳn là vì thổ ngữ xứ đó, xứ quen trận mạc và đau thương, xứ có nhiều người kiệt xuất… Mà trong àm điệu ấy, cái ý toát lên một lời hẹn thì ít, mà nghe như một tiếng Lệnh thì đúng hơn, đời ông, ông đã ra bao nhiêu cái Lệnh như thế?

Cái âm hường nó toát ra cái thần hồn, thẩn khí có tác dụng gieo vào lòng người thừa hành một lòng tin đặc biệt, chắc thắng, không do dự. Tôi tặng ông cuốn “Theo vết xích xe tăng” và giới thiệu đây là cuốn hổi ký của bộ đội xe tăng trong chiến tranh… Ông cầm cuốn sách, im lặng nhìn chiếc xe tăng vượt cổng trời nơi bìa… Chuyển cho tuỳ tùng cất đi và nói: “Tôi sẽ đọc”. Rồi thay đồ để đi tập Thái cực quyển.

Ba giờ đúng ngày hóm sau, công việc tiếp tục. Ông tươi tỉnh hơn. Thấy tôi giở máy ảnh, ông bảo: “Tôi rất ít khi được chụp một mình, bởi các đoàn thăm cứ bíu vai bíu cổ đòi chụp chung”… Lúc tôi vẽ ông, ông ngồi rất im, để phá tan cái im lặng ấy, tôi hỏi ông: “Chiều nay ông có còn tập quyền nữa không?”. Ồng bảo: “Không!”, rồi tiếp: “Tôi tập lại, trước tập rồi, bây giờ tập lại”, rồi đột ngột, ông bảo: “sao Minh Đỉnh “đi” nhanh thế nhỉ? Đang khoẻ! Giới hoạ cũng đánh giá nó nặn Bác Hổ giống nhất đấy!”… Tôi đưa cho ông xem bức hoạ vừa xong bằng phấn mầu, ông ưng ý lắm: “Được đấy!” và gọi vợ: “Hà ơi, xem này!”. Tôi đưa cây bút dạ để ông ký vào góc dưới tranh, ỏng cầm bút hơi rung, dưới ngón trỏ một nốt ruồi đỏ cực lớn, ông hỏi: “Ký là Văn nhé?”. Tôi trả lời: “Không ạ, Đại tướng cứ ký Võ Nguyên Giáp là hơn!”. Im lặng, rồi dường như lấy đà, ông phóng bút ký, đường bút đi như kiếm bay, rồi chấm một cái vào một chỗ không ngờ. Thế là bức hoạ hoàn thành. Ông bắt tay tôi và nói: “Cho tôi gửi lời chào toàn thể gia đình anh nhé!”. Ông là vị tướng quân của người Việt Nam, của dân tộc cấy lúa nước, là chỉ huy trưởng đoàn quân chân đất năm xưa, ông giản dị vô cùng!

Chị Hà tiễn tôi, tôi bảo: “Ông là tài sản của nhân dân Việt Nam”. Chị Hà sửng sốt: “Thế à!”. Chị Hà ơi, sao chị lại sửng sốt? Ông đã lấy lại lòng tin cho chúng tôi trong bao phút ngã lòng. Đời người ta, ai không có những phút ngã lòng? Khi cái ác đè lên cái thiện, khi sự thật bị vùi lấp… Thì chúng tôi cần ông biết bao. Vì ông mãi mãi là vị Tổng Tư lệnh của những người lính chúng tôi.

Hoạ sĩ Lê Trí Dũng

Nguồn: Tạp chí Văn hiến Việt Nam

Loading...

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here