Mở đường Trường Sơn trên đất Quảng Bình

0
36

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là tỉnh hậu phương trực tiếp của miền nam, giữ vị trí xung yếu trên mặt trận chi viện tiền tuyến. Với vị trí chiến lược ấy, quá trình hình thành và hoạt động của tuyến chi viện luôn gắn bó chặt chẽ, máu thịt với mảnh đất và con người . Câu chuyện mở đường của các cựu chiến binh và năm xưa không chỉ gợi nhớ về quá khứ oanh liệt mà còn góp phần tô thắm bộ đội Trường Sơn.

Mở đường Trường Sơn trên đất Quảng Bình

Lễ tuyên thệ vượt cung đường lửa-Đường 20 Quyết Thắng, trọng điểm ATP

Ông Nguyễn Văn Tợi, Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn – đường tỉnh Quảng Bình cho biết: Quảng Bình vinh dự là nơi xuất phát đầu tiên của tuyến vận tải thô sơ ngay từ những ngày đầu thành lập Đoàn 559. Đường qua Quảng Bình không chỉ là một tuyến đường mà là cả một hệ thống đường xuyên suốt địa bàn, bao gồm tuyến vận tải bộ, tuyến thông tin vận tải 3, tuyến đường ống xăng dầu, tuyến giao liên. Đặc biệt, Quảng Bình là địa phương có hai nhánh đường đông, tây Trường Sơn và bốn tuyến đường ngang. Cùng với mạng lưới giao thông vận tải, hệ thống căn cứ, sở chỉ huy, tổng kho chính của các binh trạm Đoàn 559 được bố trí tập trung chủ yếu trên đất Quảng Bình.

Với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, để có được hệ thống đường vận tải cơ giới dài gần 17 nghìn ki-lô-mét, băng qua đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, trong điều kiện chiến tranh ác liệt và khắc nghiệt, hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đã dũng cảm vượt qua thử thách dưới mưa bom bão đạn, bám rừng núi mở đường và thông đường cho xe ra tiền tuyến. Câu chuyện mở đường của họ dù sáu mươi năm đã trôi qua nhưng vẫn còn rất mới, hào sảng, song rất xúc động và vẹn nguyên mỗi khi được nhắc nhớ.

Ở tuổi 74, mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm vẽ bản đồ Trường Sơn, ông Nguyễn Lương Cảnh ở phường Bắc Lý, TP (Quảng Bình) xúc động kể: Tháng 2-1965, đế quốc Mỹ ném bom bắn phá . Đang là dân quân địa phương, ông Cảnh xung phong vào bộ đội. Đơn vị ông phụ trách làm đường, sửa đường cho bộ đội hành quân vào nam. “Chiến tranh ác liệt, sống chết trong gang tấc. Sau một loạt bom của giặc Mỹ, anh Lê Văn Dị, Đội trưởng Đội cầu 4 hy sinh tại Km39 đường 20. Tôi dùng tuốc-nơ-vít, tìm đá khắc cho anh tấm bia mộ. Thấy việc làm có ý nghĩa, cho nên Ban Chỉ huy đã yêu cầu tôi khắc bia cho chín ngôi mộ đồng đội cũng vừa hy sinh. Nhận thấy năng khiếu của tôi, cho nên tháng 2-1967, cấp trên chuyển tôi về Bộ Tư lệnh Đoàn 559 để vẽ bản đồ” – ông Cảnh nhớ lại.

Sau thời gian ngắn học việc, được sự đồng ý của Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sỹ Nguyên, ông Cảnh được tuyển vào Phòng Bản đồ. Công việc của ông là vẽ, quản lý toàn bộ bản đồ đường Trường Sơn từ tháng 5-1967. Thời gian đó, mới có khoảng 10 tuyến đường chính như: đường 15, 16, 20, 10, 12 nhưng khi chiến tranh , hệ thống đường Trường Sơn có 216 con đường dài gần 17 nghìn ki-lô-mét. Công việc của người vẽ bản đồ thời đó không hề đơn giản và phải tuyệt mật. Để vẽ được một cách chuẩn xác, phải thu thập, nghiên cứu nhiều tài liệu từ bản đồ thông thường, bản đồ của địch thu được và các đơn vị tại chỗ khảo sát gửi lên, trinh sát gửi về… Rừng núi mênh mông, địa bàn gập ghềnh, khiến người vẽ rất khó định vị. Có nhiều tuyến đường phải luồn lách dưới tán cây đòi hỏi người vẽ phải dồn hết tâm lực mới chính xác. Nhiều đoạn đường chưa làm xong đã bị địch ném bom, rồi lại phải chỉnh. Người vẽ bản đồ như ông Cảnh không hề được tiếp xúc với ai ngoài chỉ huy, không được phép nói với ai về nghề nghiệp mình làm. Xác định được tầm quan trọng đó, trong thời gian ở chiến trường, ông không cho ai biết mình làm nghề gì.

Ông Nguyễn Lương Cảnh nhớ một lần Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên chỉ đạo ông vẽ bản đồ chi tiết từ vị trí đóng quân của cấp sư đoàn, với đầy đủ trận địa, kho tàng, tỷ lệ 1:500.000 để báo cáo với Bộ Tổng Tư lệnh. Sau bốn tháng thì ông hoàn thành nhiệm vụ. “Khi đưa lên báo cáo với Tư lệnh, sau một hồi xem xét, ông bảo về làm lại. Người lính trẻ là tui run bắn lên trước vị chỉ huy vì chưa hiểu điều gì xảy ra. Một lát sau, vị Tư lệnh từ tốn giải thích: Bản đồ cậu vẽ cụ thể quá cho nên phải làm lại. Mình đang ở thời điểm khốc liệt của chiến tranh, trên đường ra Hà Nội nhỡ bị phục kích và tấm bản đồ này lọt vào tay địch thì tổn thất vô cùng lớn. Vì vậy, cậu phải vẽ lại, đánh dấu địa điểm đóng quân sai lệch khoảng 10 km” – ông Cảnh xúc động kể.

Bà Trần Thị Thành (ở phường , TP Đồng Hới), nguyên là Chính trị viên Đại đội 579 (ký hiệu là C759) trên tuyến đường 12A – một tuyến đường “lật cánh” của đường Trường Sơn – bắt đầu câu chuyện về đồi Cha Quang mà không cầm được nước mắt. Ngày ấy, để bảo đảm giao thông cho đường 12A là tuyến chi viện quan trọng cho chiến trường miền nam, tháng 5-1965, gần 180 thanh niên xung phong (TNXP) tuổi đời mười chín, đôi mươi của huyện (Quảng Bình) được bổ sung cho công trường 12A. Họ được tổ chức thành một đại đội gồm tám tiểu đội, lấy tên là C759. Đơn vị được cấp trên giao nhiệm vụ quản lý 10 km đường từ Khe Cấy đến Bãi Dinh, cứ 1 km có một tiểu đội chốt giữ. Ở nơi rừng thiêng nước độc, cuộc sống của các nữ TNXP vô cùng khó khăn, gian khổ, song ý chí và quyết tâm bám đường của C759 đã trở thành khẩu hiệu cho cả tuyến đường: Địch đánh rừng già, ta ra rừng non/Địch đánh rừng non, ta ra đồi trọc/Địch đánh đồi trọc, ta ra bám đường.

“Ngày 3-7-1966, bảy TNXP đơn vị tôi được phân công san lấp hố bom mặt đường, khẩn trương thông tuyến cho xe vượt trọng điểm nhằm tránh máy bay địch phát hiện. Như thường lệ, trước khi đi làm nhiệm vụ, chúng tôi làm lễ truy điệu sống các đồng đội. Đối mặt với cái chết trong gang tấc, nhưng các đồng chí vẫn tươi cười. Trưa hôm đó, một tốp máy bay Mỹ trút bom như mưa, cả nghìn mét khối đất, đá lấp mất đường. Bảy TNXP cùng bộ đội công binh nỗ lực thông đường. Đến 22 giờ cùng ngày, đường sắp thông tuyến thì địch thay đổi giờ đánh bom tọa độ vào ban đêm. Chúng thả bom ngay giữa đội hình C759 và bộ đội công binh. Cả một ngọn núi sạt xuống vùi lấp bảy TNXP và một số chiến sĩ công binh trong hàng nghìn tấn đất, đá. Tình thế cấp bách, nếu chờ lấy được thi thể đồng đội thì máy bay Mỹ sẽ phát hiện ra đoàn xe vận tải, lúc đó thiệt hại sẽ lớn gấp nhiều lần, còn nếu san đường thông xe thì thi thể đồng đội sẽ phải làm sao? Cuối cùng, chúng tôi quyết định vừa san đường thông tuyến vừa tìm kiếm thi thể đồng đội. Ba ngày sau khi bị vùi lấp, chúng tôi chỉ phát hiện thi thể của hai nữ đồng chí. Nén lại đau thương, chúng tôi lại phải buộc lòng một lần nữa lấp lại mặt đường, phát lệnh thông xe. Hai hàng nước mắt lăn trên má, chúng tôi lặng người đứng nhìn đoàn xe lăn bánh trên nền đất mới thông tuyến, dưới đó là thi thể các đồng đội, họ lại thêm một lần nữa hy sinh. Mãi đến năm 1972, chúng tôi mới tìm được năm thi thể còn lại của đồng đội…” – người Chính trị viên Đại đội 579 TNXP năm xưa xúc động nhớ lại.

Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Bình Nguyễn Văn Tợi, tâm sự: Mỗi tên đất, tên người trên tuyến đường Hồ Chí Minh qua đất Quảng Bình đã đi vào lịch sử, gắn bó máu thịt với cung đường lửa năm xưa. Vì vậy, trong sinh hoạt, Hội đã giao mỗi chi hội phụ trách, chăm lo một di tích, địa chỉ cụ thể nhằm tri ân những đồng đội đã ngã xuống và góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Trong mỗi lần sinh hoạt, những câu chuyện, kỷ niệm về Trường Sơn, Bộ đội Trường Sơn luôn được nhắc nhớ, làm sống dậy quá khứ oai hùng và anh dũng của thế hệ đã làm nên “kỳ tích Trường Sơn”.

HƯƠNG GIANG

Nguồn tin: Báo Nhân dân

Loading...

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here