Chuyện ly kỳ về chú voi “thiếu úy” Bạc Nòi

0
431

Trong biên chế của Đoàn 559 (Bộ đội ) những năm đầu mới thành lập có một chiến sỹ đặc biệt, đó là chú voi có tên gọi Bạc Nòi. Bạc Nòi được phong quân hàm thiếu úy vì có thành tích xuất sắc khi tham gia phục vụ Chiến dịch (1953-1954). Hoàn thành sứ mệnh vận chuyển phục vụ chiến trường, Bạc Nòi được chuyển về phục vụ sản xuất kéo gỗ tại Lâm trường Ba Rền (Công ty Liên hiệp Lâm Long Đại); nhưng sau đó Bạc Nòi phải nhận án “tử hình” vì hóa điên, phá phách, quật chết người… Đó là những câu chuyện ly kỳ, ít người biết về chú voi “thiếu úy” Bạc Nòi…

Voi Bạc Nòi trong ký ức của người Vân Kiều

Voi “thiếu úy” Bạc Nòi nổi tiếng bởi những đóng góp to lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và cả trong sản xuất ở , nhưng đáng tiếc, hiện nay, hồ sơ gốc về nó không được lưu giữ đầy đủ do nhiều nguyên nhân.

Theo thông tin từ Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, hiện ở đây chỉ còn lưu giữ bức ảnh được cho là của Bạc Nòi do tác giả Đình Lượng chụp năm 1973 và một ít thông tin rất sơ sài.

Trong hành trình đi tìm hiểu về voi Bạc Nòi, chúng tôi đến bản Làng Ho, xã () nằm ở nhánh Tây .

Làng Ho trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, được Đoàn 559 (Bộ đội Trường Sơn) chọn đặt sở chỉ huy tiền phương vào tháng 10-1959, là điểm đầu của tuyến đường gùi thồ chi viện cho chiến trường Trị Thiên và khu 5 từ năm 1959 đến năm 1962.

Già làng Hồ Vượng năm nay đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn còn khỏe mạnh và rất minh mẫn, tiếp chúng tôi trong ngôi nhà sàn của mình ngay cạnh đường nhánh Tây.

Khi chúng tôi đề cập đến câu chuyện của chú voi thiếu úy Bạc Nòi, ký ức của một thời đầy oai hùng cùng dân bản và bộ đội xuyên rừng gùi hàng tiếp tế cho chiến trường lại hiện về rõ nét trong trí nhớ của vị cao niên Vân Kiều. 

Chuyện ly kỳ về chú voi Bức ảnh voi “thiếu úy” Bạc Nòi do tác giả Đình Lượng chụp năm 1974, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng tổng hợp tỉnh.

Theo lời kể của già làng Hồ Vượng, Bạc Nòi còn có tên gọi khác là voi ngà “thiếu úy”; nó được đưa đến Làng Ho từ cuối năm 1959 bởi một quản tượng người Thanh Hóa.

“Miềng nghe cán bộ quản tượng nói, sở dĩ Bạc Nòi còn có tên gọi là voi ngà “thiếu úy” vì trước đó “đồng chí Bạc Nòi” từng tham gia Chiến dịch Điên Biên Phủ, lập được nhiều chiến công xuất sắc nên được phong quân hàm thiếu úy…”, già làng Hồ Vượng nhớ lại.

Ngoài tên gọi voi ngà “thiếu úy”, khi đến Làng Ho, Bạc Nòi còn được người Vân Kiều nơi đây trìu mến gọi bằng một tên khác: Bạc Khun.

Ông Hồ Vai (72 tuổi) ở bản Ho Rum (Kim Thủy) giải thích, sở dĩ bà con gọi nó là Bạc Khun là vì nó rất khun (khôn), thông minh. “Miềng vẫn thường xuyên chộ (thấy) Bạc Khun chở cả một một “núi” hàng trên lưng đi theo con đường mòn qua bản. Nó to lắm, có cặp ngà cong vút nên lần đầu dân bản chộ rứa ai cũng sợ, không dám lại gần mô. Nhưng tiếp xúc nhiều thì biết hắn hiền và khun lắm. Có lần, hắn đứng ngang đường, chắn hết lối đi.

Miềng lại gần, nói: “Bạc Khun cho bà con đi với”, rứa là hắn ép sát vào bụi để mọi người qua!”, ông Hồ Vai bồi hồi kể.

Những ngày đi tìm hiểu thông tin về Bạc Nòi ở Làng Ho, chúng tôi đã được nghe rất nhiều câu chuyện ly kỳ về chú voi “thiếu úy” này.

Quả thật, trong lòng những người Vân Kiều ở vùng đất Làng Ho và Hướng Hóa (Quảng Trị) đã từng được gặp Bạc Nòi, chú voi ấy như một huyền thoại mà họ không thể nào quên…

Bản án “tử hình” đẫm nước mắt

Năm 1967, khi phương thức vận chuyển thô sơ không còn nhiều hiệu quả, Bạc Nòi được chuyển giao về Lâm trường Ba Rền để tiếp tục thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, như: khai thác gỗ phục vụ sản xuất, làm cầu, mở đường chiến đấu…

Chúng tôi tìm về xã (Quảng Ninh), tìm gặp ông Nguyễn Văn Lộc là cán bộ công tác ở Lâm trường Ba Rền trong những năm 1965-1971, được giao nhiệm vụ làm quản tượng của Bạc Nòi.

Ông Lộc kể: “Suốt 4 năm quản nó, tôi chưa bao giờ dùng búa, bởi Bạc Nòi rất hiền lành và dễ mến. Nó như đọc được suy nghĩ của tôi, hiểu quản tượng cần nó làm gì chỉ qua ánh mắt”.

Đầu năm 1971, ông Nguyễn Văn Lộc chuyển công tác, Bạc Nòi lần lượt qua tay một số quản tượng khác. Năm 1973, ông Trương Đình Đá là người được giao nhiệm vụ quản Bạc Nòi cho đến lúc nó mất vào đầu năm 1982.

Nhà ông Trương Đình Đá nằm cạnh đường 11, ngay địa phận Lâm trường Ba Rền. Trong 9 năm trực tiếp quản Bạc Nòi, sống cùng nó, làm bạn với nó, với ông có quá nhiều kỷ niệm buồn, vui.

Cũng giống như những nhân vật mà chúng tôi đã gặp, ông Đá luôn dùng những cụm từ “thông minh”, “hiền lành”, “dễ gần”… khi nói về Bạc Nòi.

Về công việc, ông khẳng định, nó có thể kéo được cây gỗ khoảng 10m3 đi trên mọi địa hình. Mỗi lần hạ cây to, Bạc Nòi luôn lựa thế, dùng hai chân sau làm trụ, hai chân trước gập lên sát cổ kết hợp với cặp ngà dài, từ từ cho cây đổ xuống, tránh làm gãy những cây nhỏ xung quanh.

Ông Đá và những người bạn cùng thời ở Lâm trường Ba Rền dẫn chúng tôi vào một khoảng đất trống cạnh con suối ngay dưới ngầm Cờ Đỏ, cách nhà ông Đá khoảng 1km đường chim bay.

Đây chính là nơi mà cánh đây 37 năm, Bạc Nòi nằm lại sau bản án “tử hình” đẫm nước mắt. Sửa soạn hương, hoa, gạo, đường, thành tâm hương khói cầu nguyện cho Bạc Nòi, mọi người đã không cầm được nước mắt.

Hình ảnh bi hùng và âm thanh chát chúa của tiếng súng nổ, voi gầm lại mồn một hiện về trong ký ức của những người công nhân già.

Lau vội dòng nước mắt, ông Đá kể lại: “Đầu năm 1982, Bạc Nòi bỗng nhiên bị điên, trở tính, khó bảo, thường xuyên phá phách và rượt đuổi công nhân khiến cho hàng trăm người ở Lâm trường Ba Rền phải sống trong cảnh nơm nớp, lo âu.

Đỉnh điểm, Bạc Nòi đã phá tan nhiều chiếc xe, máy của lâm trường và còn quật chết 2 người. Không còn cách nào khác, lãnh đạo lâm trường phải báo cáo lên cấp trên, làm văn bản gửi Bộ Lâm nghiệp (cũ) xin lệnh “tử hình” Bạc Nòi…”.

Kể đến đây, giọng ông Đá như nghẹn lại. Đã gần 40 năm trôi qua, nhưng trong lòng ông Đá, cũng như những người đã từng sống và chăm sóc chú voi Bạc Nòi vẫn chưa hết day dứt.

“Khi Bạc Nòi bị xử bắn, lúc đầu, tôi cũng mừng vì đã trút được nỗi lo công nhân và người dân bị nó tấn công. Nhưng những ngày sau đó, tôi bắt đầu có cảm giác như mất mát một người thân; nỗi đau và sự mất mát ấy cứ lớn dần theo năm tháng và theo tôi trong suốt 40 năm qua”, ông Đá nghẹn ngào nói.

Trong lịch sử của đường 559 đã viết: “Mùa hạ năm 1959, từ khe Hó phía Tây Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị tiểu đoàn 301, đơn vị đầu tiên Bộ đội Trường Sơn bí mật xuất quân mở đường giao liên vận tải bằng phương thức mang vác, gùi thồ, bằng xe đạp và dùng sức ngựa, voi.

Chỉ trong 4 năm kể từ ngày thành lập, Đoàn 559 đã đưa được 4.400 tấn vũ khí, đạn dược và hơn 31.000 cán bộ, chiến sỹ vào chiến trường, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ”. Trong thành tích đó, có một phần đóng góp của chú voi “thiếu úy” Bạc Nòi…

Phan Phương

Nguồn tin: Báo Quảng Bình

Loading...

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here