5.2 C
New York
Thứ Tư, Tháng Mười Hai 1, 2021

Bát danh hương Quảng Bình, tập 4: Cảnh Dương

- Advertisement -

Bát danh hương Quảng Bình, tập 4: Cảnh Dương

Mang hình dáng tựa như một con thuyền đang rẽ sóng ra khơi, Cảnh Dương (huyện Quảng Trạch), ngôi làng trù phú và giàu có của châu Bố Chính xưa, giờ vẫn tiếp tục phát huy truyền thống của quê hương, chinh phục biển xa, mang về bao sản vật. 

Bát danh hương Quảng Bình, tập 4: Cảnh Dương

Làng Cảnh Dương, nay là xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch. Khác với các danh hương khác, vùng đất Cảnh Dương là một bán đảo có 3 mặt sông biển, người xưa hình dung Cảnh Dương như một con thuyền đang bồng bềnh trên sóng nước. Với diện tích 3km2 trong đó đất thổ cư chiếm 33ha, đất còn lại toàn là cát nên Cảnh Dương không có đất trồng lúa, trồng màu như các danh hương khác ở Quảng Bình. Tuy không có đất canh tác nông nghiệp nhưng Cảnh Dương vẫn được thiên nhiên ưu đãi nhất định có thể phát triển các ngành nghề, nhất là thủ công và đánh bắt hải sản. Nhờ điều kiện tự nhiên có nhiều thuận lợi và người dân cần cù chịu khó mà “Cảnh Dương dưới thời phong kiến đã trở thành một trong những làng giàu có vào bậc nhất châu Bố Chính xưa”[10; 24]. Có tiềm lực kinh tế khá giả nên cư dân Cảnh Dương đã rất chú ý đầu tư kinh phí cho con em học hành khoa cử. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính để lý giải vì sao Cảnh Dương không có bề dày lịch sử bằng nhiều làng quê khác ở Quảng Bình nhưng lại là một trong số những làng văn vật nổi tiếng. Cảnh Dương là một vùng đất có cảnh quan kỳ tú, có sông núi hùng vĩ:

“Sông Loan, núi Phượng hữu tình

Bảng vàng ấn ngọc anh linh chầu về”

Sông Loan (sông Roòn), núi Phượng như một bức tranh đẹp, hài hòa cân xứng làm nên cảnh sắc riêng của xứ Roòn mà làng Cảnh Dương chính là một điểm son rực rỡ trong bức tranh thiên nhiên kỳ tú đó.

Cảnh Dương cũng là làng có nhiều di tích lịch sử – văn hóa. Đến trước Cách mạng tháng Tám, Cảnh Dương còn đủ 20 đình, chùa, am, miếu chia thành hai cụm chính: – Khu vực đầu làng có chùa thờ Phật, am Hội Phổ (Phật học), nhà thờ bốn giáp: Đông, Trung, Nam, Tây và miếu thờ Đức thánh Trần.

Khu vực giữa làng có Đình lớn (thờ Thành hoàng), Đình tổ, Đình Thánh, Đình Quan cư (nơi đón các quan), miếu ông Tặng.

- Advertisement -

Ngoài ra, bốn góc làng có bốn miếu Quan trấn. Các xóm có miếu Thổ, cửa lạch có Bang thờ thần sông, thần biển. Chùa làng được xây dựng cách ngày nay 300 năm. Chùa Cảnh Dương là một tác phẩm nghệ thuật đa dạng đặc sắc về kiến trúc và điêu khắc của thế kỉ XVII. Chùa là nơi tập trung khá nhiều hiện vật có giá trị về lịch sử và văn hóa của Cảnh Dương như chuông chùa được đúc từ cuối đời Cảnh Thịnh (1801). Chuông được xem là một bảo vật quý hiếm từ thời Tây Sơn mà dân làng vẫn còn giữ được. Hai bên tiền sảnh đắp nổi tượng hai ông: thiện và ác mang dáng dấp của một võ tướng oai phong lẫm liệt. Hậu tự là nơi thờ Phật với hàng trăm pho tượng kích cỡ lớn nhỏ khác nhau bằng gỗ, đồng hoặc thạch cao, cùng nhiều tranh vẽ về các tích Phật.

Cảnh Dương cũng là một làng hiếu học nhiều người đỗ đạt làm quan. Dưới triều Nguyễn, Cảnh Dương có 2 Tiến sĩ: Phạm Chân (khoa Mậu Tuất 1838) và Nguyễn Phùng Dực (khoa Kỷ Dậu 1849); 1 Phó bảng là Trần Ngọc Diêu, 14 vị cử nhân và 120 tú tài. Những thành tựu đó là kết quả của sự đầu tư thích đáng cho việc học tập mà dân làng dành cho con em mình. Khi chưa có trường học, người Cảnh Dương thường gửi cho con em vào phủ vào tỉnh để học tập. Để khuyến kích việc học tập của con em, làng đã cho dựng hai tấm bia là Cảnh Dương xã từ vũ bi (dựng năm 1836) và Văn hội tích bi dựng năm Thành Thái thứ 12; trên bia ghi rõ tên những người khoa cử đỗ đạt từ tú tài đến cử nhân, tiến sĩ. Khoảng năm 1930, Cảnh Dương là một trong số rất ít làng xã của Quảng Bình được mở trường Tiểu học Pháp – Việt. Nhờ đó mà nhiều con em Cảnh Dương có điều kiện học hành và sớm trở thành những trí thức tân học. Nhờ có truyền thống học hành, khoa bảng, nhiều người đỗ đạt mà Cảnh Dương có hội Tư văn dành cho lớp trí thức Nho học. Cảnh Dương cũng là làng có nhiều lễ hội nhất cả vùng Roòn. Có thể chia lễ hội của Cảnh Dương thành các loại sau:

  • Lễ hội liên quan đến nghề nghiệp gồm: Lễ câu ngư, xuất hành, lễ cửa.
  • Lễ Giỗ tổ và lễ tế rước Thành hoàng.
  • Lễ hội phong tục: Lễ Kỳ yên, lễ động mõ…
  • Lễ hội tôn giáo: Lễ Vu Lan, lễ Phật Đản.

Văn học dân gian Cảnh Dương có đóng góp đáng trân trọng cho kho tàng văn học dân gian Quảng Bình. Trên bình diện thể loại, kho tàng văn học dân gian Cảnh Dương có các loại chính sau:

– Truyền thuyết và giai thoại kể về lịch sử làng hoặc các nhân vật nổi danh (Họ Cao, ăn mắm Hàm hương nhớ thương ông Cống, Cụ Thượng, Long vương lấy gỗ…).

– Truyện cổ tích nói về nhân tình thế thái (Người chị dâu tốt bụng, Tôi chỉ hơn ông cái này, Ách giữa đàng quàng vào cổ…).

– Tục ngữ cao dao nói về nghề nghiệp và tâm tư tình cảm của cư dân làng biển.

– Các bài vè đi biển (Nhật trình đi ra, Nhật trình đi vô, Rạng ngầm, Con nước…).

– Các bài đồng dao (Hú dê dê, O hòn ót họt, Luồn cầu vồng...).

- Advertisement -

Xưa kia Cảnh Dương là một làng quê văn vật; trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, Cảnh Dương là một pháo đài vững chắc – một làng chiến đấu kiểu mẫu, kiên cường, bất khuất trước kẻ thù. “Có được điều này một phần là do từ rất lâu đời dân làng Cảnh Dương luôn đoàn kết, gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa nước, cần cù dũng cảm sáng tạo đương đầu với sóng to, gió lớn nơi sông dài biển rộng trong công việc làm ăn, tôn trọng lệ làng, phép nước, kỷ cương, nề nếp trong sinh hoạt hương thôn”,

- Advertisement -

bài liên quan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

kết nối

66,998Thành viênThích
284Người theo dõiTheo dõi
21,600Người theo dõiĐăng Ký
- Advertisement -

bài mới

- Advertisement -

được quan tâm