12.7 C
New York
Thứ Tư, Tháng Mười 5, 2022

Cung cấp hiệu quả ý tưởng và luận cứ cho việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết tiểu vùng

- Advertisement -

(Chính trị) – Tại chương trình tọa đàm “Liên kết phát triển tiểu vùng Bắc Trung bộ trong bối cảnh mới”, đồng chí Nguyễn Hồng Sơn, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 39 Trung ương đã có bài phát biểu đề dẫn tọa đàm. Báo Quảng Bình trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.

Kính thưa đồng chí Vũ Đại Thắng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình!

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo các tỉnh thuộc tiểu vùng Bắc Trung bộ!

Kính thưa các chuyên gia, nhà khoa học và toàn thể các đồng chí tham dự toạ đàm!

Cung cấp hiệu quả ý tưởng và luận cứ cho việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết tiểu vùngĐồng chí Nguyễn Hồng Sơn, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 39 Trung ương phát biểu khai mạc

Nhằm triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tổng kết các Nghị quyết 6 vùng kinh tế đã được ban hành cách đây gần 20 năm và chủ trương sẽ ban hành các Nghị quyết mới nhằm định hướng cho phát triển các vùng để phát huy được được các tiềm năng, lợi thế, tối ưu hóa nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển của từng vùng trong bối cảnh, tình hình mới của đất nước. Nghị quyết mới về các vùng cũng là cơ sở, căn cứ chính trị quan trọng để các bộ, ngành ban hành các cơ chế, chính sách mới và bổ sung nguồn lực nhằm phát triển nhanh, bền vững vùng và các địa phương trong vùng thời gian tới.

Trong đó, năm 2021, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn thành việc tổng kết và Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW, Nghị quyết số 13-NQ/TW. Năm 2022, Ban Kinh tế Trung ương được Bộ Chính trị giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và các địa phương tổng kết 02 Nghị quyết, trong đó có nhiệm vụ Tổng kết Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ đến năm 2010 và Kết luận số 25-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW.

Thực hiện Kế hoạch số 81-KH/BKTTW, ngày 16/5/2022 về triển khai Đề án tổng kết, hôm nay, Ban Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 39-NQ/TW phối hợp với Tỉnh uỷ Quảng Bình tổ chức toạ đàm: “Liên kết phát triển tiểu vùng Bắc Trung bộ trong bối cảnh mới”. Đây là toạ đàm thứ 3 được tổ chức trong vùng (2 toạ đàm trước được tổ chức ở Khánh Hoà và Quảng Nam). Mục tiêu của toạ đàm là tạo diễn đàn trao đổi, thảo luận giữa lãnh đạo các địa phương, bộ, ngành, các chuyên gia và nhà khoa học về liên kết phát triển trong tiểu vùng, trên cơ sở đó cung cấp thêm ý tưởng và luận cứ cho việc đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết tiểu vùng, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội tiểu vùng nói riêng và cả vùng nói chung trong bối cảnh mới. Những đề xuất này sẽ được đưa vào Báo cáo Tổng kết của Đề án và dự thảo Nghị quyết mới về vùng trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong tháng 9/2022.

- Advertisement -

Thay mặt Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết, tôi đánh giá cao và cám ơn các đồng chí lãnh đạo các địa phương trong tiểu vùng; đại diện các bộ, ngành, các chuyên gia, nhà khoa học, nhất là các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Bình đã rất trách nhiệm trong việc tham gia và chuẩn bị rất chu đáo cho buổi toạ đàm, đặc biệt là trong bối cảnh chúng ta đang bị ảnh hưởng bởi mưa hoàn lưu sau bão.

Kính thưa các đồng chí!

Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 và Kết luận số 25-KL/TW, ngày 02/8/2012 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW đặt ra 5 mục tiêu đối với phát triển vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ: (1) Phát triển kinh tế biển gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo; (2) Sớm tiến kịp các vùng khác trong nước; (3) Đầu cầu quan trọng trong giao lưu hợp tác quốc tế; (4) Hạn chế tối đa ảnh hưởng của thiên tai, lũ bão, hạn hán; ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo vệ môi trường sinh thái; (5) Cải thiện căn bản đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân.

Cung cấp hiệu quả ý tưởng và luận cứ cho việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết tiểu vùngPhiên trao đổi, đối thoại chính sách của các đồng chí trong Thường trực Tỉnh ủy các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cụ thể là Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 đã định hướng đối với vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ là:

– Tập trung phát triển mạnh kinh tế biển kết hợp với bảo đảm quốc phòng-an ninh trên biển, nhất là đánh bắt và nuôi trồng hải sản xa bờ.

– Cơ cấu lại nông, lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản gắn với công nghiệp chế biến, bảo đảm bền vững và hiệu quả cao.

– Phát triển nhanh, đồng bộ năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

- Advertisement -

– Tăng cường liên kết vùng, tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống đô thị ven biển, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm khu vực và quốc tế. Phát triển các cảng biển và dịch vụ cảng biển, hạ tầng và các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá.

– Nâng cao năng lực phòng, chống, giảm thiểu thiệt hại của thiên tai, bão lũ, hạn hán; chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chống sa mạc hóa, sạt lở bờ sông, bờ biển.  

Kính thưa các đồng chí!

Vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ bao gồm 14 tỉnh, thành phố và được phân chia thành 03 tiểu vùng: Tiểu vùng Bắc Trung bộ, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, tiểu vùng Nam Trung bộ (Theo Quyết định số 1114/QĐ-TTg ngày 09 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung đến năm 2020). Tiểu vùng Bắc Trung bộ bao gồm 5 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. [Khác với cách hiểu thông thường hay sự phân chia tiểu vùng về thời tiết, địa lý và du lịch]. Dân số của tiểu vùng năm 2020 khoảng 9,8 triệu người (chiếm 10,1% dân số cả nước); chiếm gần 50% dân số toàn vùng (48,5%).

Một số đặc điểm cơ bản của tiểu vùng (điển hình của vùng):

(1) – Là tiểu vùng có vai trò, vị trí quan trọng đặc biệt về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là an ninh biển, đảo; an ninh môi trường, sinh thái. (Tình hình phức tạp ở Biển Đông, sự cố môi trường biển năm 2011, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp với các ngành công nghiệp nặng, dễ gây ô nhiễm môi trường). Năm 2020 đóng góp trên 42% vào GRDP; gần 50% lực lượng lao động của toàn vùng (mức đóng góp cao nhất trong vùng). Các ngành kinh tế cũng đóng góp hơn 40% các ngành kinh tế của toàn vùng. (Ngành nông – lâm – thủy sản, ngành công nghiệp – xây dựng, ngành thương mại – dịch vụ của tiểu vùng đóng góp lần lượt là 44,59%, 45,56%, 40,39%).

Là tiểu vùng có vai trò kết nối với vùng Đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và với vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung ở phía Nam, là mắt xích quan trọng trong kết nối với hành lang Kinh tế Đông-Tây.

(2) – Là tiểu vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, nhà khoa học…Nhân dân cần cù, chịu thương, chịu khó, chịu khổ, tinh thần cách mạnh cao. Văn hoá, truyền thống rất đa dạng.

(3) – Là tiểu vùng có nhiều tiềm năng cho phát triển các ngành, lĩnh vực: (i) Chiều dài bờ biển 510,38 km gần 1/3 chiều dài bờ biển của cả vùng (1.900 km), (thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế biển); (ii) Nhiều di tích lịch sử, văn hoá và truyền thống và nhiều di sản thiên nhiên (thuận lợi cho phát triển du lịch các loại hình); (iii) Địa hình đa dạng có cả đồng bằng, miền núi và ven biển, biển và hải đảo; (iv) Tài nguyên, khoáng sản phong phú, đa dạng.

(4) – Là tiểu vùng thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai (lũ lụt, hạn hán, bão), nước biển dâng, biến đổi khí hậu, thời tiết khắc nghiệt (nắng nóng, gió lào); hậu quả nặng nề của chiến tranh.

(5) – Là tiểu vùng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm: Ngoài Nghị quyết 39-NQ/TW và Kết luận 25-KL/TW, còn có 2 nghị quyết của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh cho 2 địa phương trong vùng với nhiều cơ chế, chính sách đặc thù. Nhiều cơ sở hạ tầng quan trọng được đầu tư xây dựng: Có 3 nhóm cảng biển nước sâu (tất cả các tỉnh đều có cảng biển); 5 khu kinh tế ven biển; 3 sân bay (Dự kiến có thêm sân bay Quảng trị sẽ là 4); 3 khu kinh tế cửa khẩu (Cầu Treo, Chalo, Lao Bảo); nằm trên đường quốc lộ Bắc-Nam, Đường mòn HCM, đường sắt Bắc-Nam; hầu hết các tỉnh đều có trường đại học.

(6) – Riêng về liên kết tiểu vùng, đã có nhiều định hướng trong liên kết phát triển tiểu vùng như liên kết khu vực kinh tế Nam Thanh Hóa-Bắc Nghệ An; Nam Nghệ An-Bắc Hà Tĩnh; Nam Hà Tĩnh-Bắc Quảng Bình; Kết nối Khu kinh tế Đông Nam (Quảng trị) với hành lang kinh tế Đông-Tây hay liên kết trong phát triển du lịch “Con đường di sản miền Trung”, “Con đường sinh thái, văn hóa tâm linh Bắc miền Trung gắn với du lịch có trách nhiệm và bền vững”… Đồng thời, có sự đồng thuận gần như tuyệt đối về sự cần thiết liên kết vùng và liên kết tiểu vùng cho phát triển: Mở ra không gian phát triển mới và phát huy ở mức cao nhất tiền năng, lợi thế của tiểu vùng, vùng; làm tăng tiếng nói của tiểu vùng, vùng.

Tuy nhiên, tiểu vùng Bắc Trung Bộ vẫn là tiểu vùng kém phát triển trong vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ. Năm 2020, GRDP/người (49 triệu đồng/người), năng suất lao động (87 triệu đồng/lao động); năm 2021 thu nhập bình quân đầu người đều thấp nhất vùng (3.218 triệu đồng/tháng/người so với 3.493 triệu đồng/người/tháng). Mặc dù, khoảng cách về thu nhập so với trung bình vùng và trung bình cả nước đang được thu hẹp lại nhanh hơn các tiểu vùng khác. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia 2016-2020 cũng cao hơn trung bình vùng. Tỷ lệ đô thị hóa của tiểu vùng năm 2020 cũng thấp hơn trung bình vùng và thấp hơn trung bình cả nước (hơn 20% thấp hơn mức 31,47% của cả vùng Duyên hải miền Trung, thấp hơn mức trung bình của cả nước 36,82%). Các hoạt động liên kết vùng vẫn chưa hiệu quả và chưa được như mong muốn.

Trong bối cảnh đó, có nhiều câu hỏi được đặt ra:

Một là, tại sao liên kết phát triển tiểu vùng và vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung lại khó khăn như vậy? đâu là nguyên nhân và rào cản (nhận thức, cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện hay nguồn lực)?

Hai là, ở góc độ quan điểm, chủ trương, định hướng lớn: Làm thế nào để có thể thúc đẩy liên kết phát triển tiểu vùng nói riêng và toàn vùng nói chung? thể chế liên kết tiểu vùng, vùng cần phải như thế nào? Ít nhất là trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam? Theo quy định của Hiến pháp? Theo quy định về phân vùng? Theo quy định của luật về Chính phủ và chính quyền địa phương? Nếu như có cơ chế hội đồng điều phối vùng thì mô hình này cần hoạt động như thế nào trong vùng và ở từng tiểu vùng?

Ba là, cũng ở góc độ quan điểm, chủ trương, định hướng lớn: Những ngành, lĩnh vực nào là những ngành, lĩnh vực cần tập trung liên kết trong tiểu vùng để có thể phát huy được ở mức cao nhất các tiềm năng, lợi thế của từng tiểu vùng, toàn vùng?

Kính thưa các đồng chí!

Những câu hỏi kể trên cũng chính là những vấn đề mà Ban Tổ chức mong muốn các đồng chí lãnh đạo các địa phương, các bộ, ngành, các chuyên gia và nhà khoa học thảo luận và đưa ra các ý tưởng, gợi ý trong buổi toạ đàm hôm nay. Rất mong các đồng chí, các chuyên gia, nhà khoa học phát biểu, thảo luận thẳng thắn, tích cực tại tọa đàm.

Xin chúc Tọa đàm của chúng ta thành công tốt đẹp và xin chúc tất cả các đồng chí, các chuyên gia, nhà khoa học sức khoẻ, hạnh phúc và thành công!

Xin trân trọng cảm ơn!

Baoquangbinh.vn

Nguồn tin:Báo Quảng Bình
Link bài gốc: https://baoquangbinh.vn/thoi-su/202208/cung-cap-hieu-qua-y-tuong-va-luan-cu-cho-viec-de-xuat-cac-giai-phap-thuc-day-lien-ket-tieu-vung-2202741/
- Advertisement -.

bài liên quan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

kết nối

67,953Thành viênThích
319Người theo dõiTheo dõi
23,300Người theo dõiĐăng Ký
- Advertisement -

bài mới

- Advertisement -

được quan tâm